CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Vũ Chí Lộc (2012) nhận định khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư” Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, “FDI được định nghĩa là một loại hình đầu tư đưa lại lợi ích lâu dài trong điều hành doanh nghiệp tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế mà nhà đầu tư cư trú, mục đích của nhà đầu tư là tạo được tiếng nói hiệu quả trong hoạt động quản lý doanh nghiệp”; UNCTAD (1999) định nghĩa “FDI là một loại hình đầu tư liên quan tới mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một chủ thể cư trú tại một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác với nơi nhà đầu tư nước ngoài cư trú (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên kết hoặc chi nhánh tại nước ngoài); Luật Đầu Tư (2020) có khái niệm “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”.
Đặc điểm của FDI Thứ nhất, mục tiêu hàng đầu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho chủ đầu tư; 7 Thứ hai, từng quốc gia sẽ yêu cầu các chủ đầu tư phải đóng góp một khối lượng vốn tối thiểu theo quy định pháp luật. Luật Đầu tư do Quốc hội Việt Nam ban hành năm 2020 quy định nhà đầu tư nước ngoàiphải nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; Thứ ba, quốc gia nhận đầu tư phải có hệ thống pháp luật và hành lang pháp lý để thu hút đầu tư FDI nhằm tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội; Thứ tư, dựa vào tỷ lệ đóng góp vốn để phân chia quyền quản lý doanh nghiệp FDI; Thứ năm, thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần; Thứ sáu, FDI được thực hiện qua các hình thức như đầu tư mới; mua lại và sáp nhập xuyên biên giới; liên doanh; Thứ bảy, FDI thường gắn liền với hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý cho quốc gia nhận đầu tư; Thứ tám, FDI gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia (MNC) 1. Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có thể phân loại theo động cơ của nhà đầu tư và theo định hướng của nước nhận đầu tư. Ngoài ra, FDI cũng có thể phân loại theo hình thức xâm nhập và một số cách phân loại khác.
Theo động cơ của nhà đầu tư Từ quan điểm của nhà đầu tư, FDI được chia thành: FDI theo chiều ngang, FDI theo chiều dọc và FDI hỗn hợp. - FDI theo chiều ngang FDI theo chiều ngang được tiến hành với mục đích mở rộng quy mô sản xuất các hàng hóa cùng loại hoặc tương tự ở trong nước tại nước ngoài (tại quốc gia nhận đầu tư). Khái quát hơn, FDI theo chiều ngang được tiến hành nhằm khai thác toàn bộ 8 lợi thế độc quyền và độc quyền tập đoàn, ví dụ như bằng sáng chế hay những sản phẩm được dị biệt hóa, đặc biệt nếu việc mở rộng tại quê nhà là vi phạm luật chống độc quyền. - FDI theo chiều dọc FDI theo chiều dọc được tiến hành với mục đích khai thác những nguyên liệu thô (backward vertical FDI) hoặc tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng thông qua việc mua lại các kênh phân phối (forward vertical FDI).
- FDI hỗn hợp FDI hỗn hợp được tiến hành với mục đích: đa dạng hóa ngành kinh doanh nhằm phân tán rủi ro, thâm nhập ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau; thực hiện đồng thời hai chiến lược: quốc tế hóa và đa dạng hóa. Theo định hướng của Quốc gia nhận đầu tư Từ quan điểm của Quốc gia nhận đầu tư, FDI có thể phân loại thành: FDI thay thế nhập khẩu; FDI gia tăng xuất khẩu; và FDI do chính phủ khởi xướng: - FDI thay thế nhập khẩu FDI thay thế nhập khẩu liên quan tới việc sản xuất các hàng hóa mà trước đây nước nhận đầu tư phải nhập khẩu, dẫn tới việc nhập khẩu của nước nhận đầu tư và xuất khẩu của nước đi đầu tư sẽ giảm xuống. Loại hình FDI này thường phụ thuộc vào quy mô thị trường của quốc gia nhận đầu tư, chi phí vận chuyển và hàng rào thương mại.
- FDI gia tăng xuất khẩu FDI gia tăng xuất khẩu nhằm mục đích tìm kiếm nguồn đầu vào mới như nguyên liệu thô và các hàng hóa trung gian. Loại hình FDI này gọi là gia tăng xuất khẩu vì quốc gia nhận đầu tư sẽ tăng cường xuất khẩu nguyên liệu thô và các sản phẩm trung gian sang quốc gia đi đầu tư và các quốc gia khác. - FDI do Chính Phủ khởi xướng 9 FDI do Chính Phủ khởi xướng chủ yếu nhằm mục đích phát triển các ngành sản xuất còn yếu kém, các ngành kinh tế còn khó khăn và cải thiện cán cân thanh toán. Theo hình thức xâm nhập Theo hình thức xâm nhập FDI được chia thành: Đầu tư mới (Greenfield); Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới (Cross border M&A); Liên doanh (Joint ventures).
- Đầu tư mới (Greenfield) Đầu tư mới là hình thức nhà đầu tư thiết lập hoạt động sản xuất, phân phối hoặc cơ sở mới tại quốc gia nhận đầu tư. Thường được các quốc gia nhận đầu tư chào đón do nó tạo thêm cơ hội việc làm và làm gia tăng sản lượng đầu ra. - Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới (Cross border M&A) Mua lại và sáp nhập xuyên biên giới là hình thức nhà đầu tư mua lại hoặc hợp nhất hoạt động kinh doanh với một doanh nghiệp mục tiêu tại nước nhận đầu tư. Không phải lúc nào cũng được các quốc gia nhận đầu tư chào đón do một số hiệu ứng tiêu cực.
- Liên doanh (Joint ventures) Liên doanh là hình thức nhà đầu tư hợp tác với doanh nghiệp địa phương, với tổ chức chính phủ hoặc với doanh nghiệp nước ngoài khác tại quốc gia nhận đầu tư để thành lập một doanh nghiệp liên doanh. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài Vũ Chí Lộc (2011) đã đưa ra những tác động tích cực và tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư. Tác động tích cực Đối với nước đi đầu tư: Đầu tư ra nước ngoài nâng cao hiệu quả sử dụng lợi thế sản xuất của nước sở tại, giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng thu hồi vốn đầu tư và tạo ra thị trường cho nguồn cung cấp nguyên liệu với giá phải chăng, ổn định. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và tăng uy tín 10 chính trịtrên trường quốc tế.
Bằng cách thiết lập các nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, mà nước đầu tư có thể mở rộng thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ thương mại của các nước. Ngoài cơ hội kiếm lời, thông qua hoạt động đầu tư các doanh nghiệp đi đầu tư còn đạt một số lợi ích quan trọng như: Mở rộng thị trường và tiếp cận khách hàng tiềm năng mới: Các doanh nghiệp có cơ hội thâm nhập vào thị trường mới, nơi có tiềm năng phát triển lớn và ít đối thủ cạnh tranh hơn so với thị trường nội địa. Tận dụng nguồn lực mới: FDI cung cấp cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn nguyên liệu, lao động và các nguồn lực khác với giá thành thường thấp hơn so với tại quốc gia địa phương. Đồng thời, các doanh nghiệp còn có cơ hội tận dụng các ưu đãi về thuế, phí và các chính sách hỗ trợ đầu tư từ chính phủ địa phương.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế thương hiệu: FDI giúp các doanh nghiệp học hỏi kinh nghiệm quản lý, công nghệ và phương pháp hoạt động từ các doanh nghiệp khác, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường quốc tế. Đối với nước nhận đầu tư: Góp phần bổ sung một lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển. Trong các nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốn FDI được đánh giá là rất quan trọng đối với nhiều nước. FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của các nước đang và kém phát triển.
Các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra các liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mối quan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công. Qua đó FDI thúc đẩy đầu tư trong nước phát triển, gắn kết các công ty trong nước với thị trường thế giới. Nhờ vậy, các tiềm năng trong nước được khai thác với hiệu quả cao. Có được các công nghệ phù hợp, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh việc thiếu vốn để phát triển, các nước đang phát triển còn có nhu cầu rất lớn về công nghệ. FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước thông qua con đường chuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở nước chủ nhà để phục vụ cho các dự án đầu tư. 11 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Với tỷ trọng vốn FDI vào các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng, nguồn vốn này đã góp phần tăng nhanh tỷ trọng về sản lượng, việc làm, xuất khẩu,.
của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế của các nước đang phát triển. Tỷ trọng của các ngành kinh tế truyền thống (nông nghiệp, khai thác. FDI góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế. Các dự án FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển.
Các cân đối lớn của nền kinh tế như cung cầu hàng hóa trong nước, xuất nhập khẩu, thu chi ngân sách đều thay đổi theo chiều hướng tích cực nhờ sự đóng góp của FDI.