Chương 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam Luan van 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm và đặc điểm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm Có nhiều định nghĩa về FDI nhƣng dù theo bất kỳ một cách hiểu nào đều có thể khẳng định FDI là một hình thức “đầu tƣ” - xuất hiện khi một nhà đầu tƣ ở một nƣớc mua tài sản có ở một nƣớc khác với ý định quản lý nó.
Quyền kiểm soát (control – tham gia vào việc đƣa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lƣợc và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tƣ chứng khoán. Theo các chuẩn mực của Quỹ tiền tệ Thế giới (IMF - International Monetary Fund) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development), FDI đƣợc định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn. Trong cuốn “Cẩm nang thanh toán - Balance of Payments Manual”, xuất bản lần thứ 5 năm 1993, trang 86, IMF định nghĩa: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp này”.
OECD thì đƣa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)”. (trích dẫn Benchmark Definition of Foreign Direct Investment, OECD, 1996) Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cƣ trú tại một nƣớc, đƣợc gọi là nhà đầu tƣ trực tiếp thông qua một chủ Luan van 6 thể khác cƣ trú ở nƣớc khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp, đồng thời nhà đầu tƣ có một mức độ ảnh hƣởng đáng kể với việc quản lý doanh nghiệp này. Theo khoản 2 và khoản 12 điều 3 trong Luật đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam thì có các khái niệm về “ Đầu tƣ”, “ Đầu tƣ trực tiếp” và “ Đầu tƣ nƣớc ngoài” … nhƣng không có khái niệm “ Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài”.
Tuy nhiên, từ các khái niệm trên có thể hiểu: “ FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Từ những khái niệm trên đây, có thể hiểu một cách khái quát về FDI là “một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó” (Vũ Chí Lộc 2012, tr. Nhƣ vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài với hai đặc điểm cơ bản là: có sự dịch chuyển tƣ bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tƣ (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tƣợng đầu tƣ. Đặc điểm Theo tác giả Vũ Chí Lộc trong giáo trình Đầu tƣ quốc tế (Vũ Chí Lộc 2012,tr.
114-115), đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có những đặc điểm cụ thể nhƣ sau: - FDI chủ yếu là đầu tƣ tƣ nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Theo cách phân loại ĐTNN của nhiều tài liệu và theo quy định luật pháp nhiều nƣớc, FDI là đầu tƣ tƣ nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một số nƣớc, ví dụ nhƣ Việt Nam, quy định trong trƣờng hợp đặc biệt FDI có thể có sự tham gia góp vốn của Nhà nƣớc. Dù chủ thể là tƣ nhân hay nhà nƣớc, FDI có mục đích ƣu tiên hàng đầu là lợi nhuận.
- FDI đƣợc thực hiện bằng vốn của các pháp nhân hoặc tƣ nhân do các chủ đầu tƣ tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả của hoạt Luan van 7 động sản xuất kinh doanh (lỗ hoặc lãi). Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về chính trị. - Các chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu tùy theo quy định của luật pháp từng nƣớc để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp đầu tƣ. Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài phải điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tƣ nếu là doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài hoặc phải tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỉ lệ góp vốn của mình.
- Nguồn vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tƣ ban đầu của chủ đầu tƣ dƣới hình thức vốn pháp định mà còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp (DN) để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng nhƣ vốn đầu tƣ từ nguồn lợi nhuận thu đƣợc trong quá trình hoạt động. - FDI thƣờng kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thông qua việc cung cấp tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị) và tài sản vô hình (độc quyền, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, phƣơng thức điều hành quản lý kinh doanh…) Các dự án FDI cũng có những đặc điểm khác với các dự án đầu tƣ trong nƣớc, cụ thể nhƣ sau: - Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài trực tiếp tham gia quản lý, điều hành dự án. - Tính đa quốc tịch trong một dự án, một dự án FDI cũng bao gồm ít nhất hai bên có hai quốc tịch khác nhau, một bên nƣớc sở tại, một bên nƣớc ngoài. - Tính đa ngôn ngữ của các bên tham gia dự án, đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ quốc tế và ngôn ngữ nƣớc sở tại trong các văn bản của dự án và trong toàn bộ quá trình hoạt động của dự án.
- Dự án đầu tƣ quốc tế chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật (Luật pháp nƣớc sở tại và luật pháp quốc tế). - Hầu hết các dự án FDI đều gắn liền với quá trình chuyển giao công nghệ với những nội dung, mức độ và hình thức khác nhau. - Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vừa là chủ sở hữu, vừa chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế của dự án FDI và phân chia lợi ích đƣợc tiến hành theo nguyên tắc thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của nƣớc sở tại. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Cũng trong cuốn Đầu tƣ quốc tế (Vũ Chí Lộc 2012, tr.
115-119), đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có thể đƣợc phân loại nhƣ sau: 1. Phân loại theo cách thức xâm nhập Theo tiêu chí này, FDI đƣợc phân chia thành hai hình thức: - Đầu tƣ mới (Greenfield investment): Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài góp vốn để xây dựng một cơ sở sản xuất, kinh doanh mới tại nƣớc nhận đầu tƣ. Hình thức này thƣờng đƣợc các nƣớc nhận đầu tƣ đánh giá cao vì có khả năng tăng thêm vốn, tạo công ăn việc làm và giá trị gia tăng cho nƣớc này. - Sáp nhập và mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition): Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài mua lại hoặc sáp nhập một cơ sở sản xuất kinh doanh đã có sẵn ở nƣớc nhận đầu tƣ.
Theo quy định của Luật cạnh tranh đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2005: Sáp nhập (Merger) doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Mua lại (Acquisition) doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. FDI chủ yếu diễn ra dƣới hình thức mua lại. Hình thức M&A đƣợc nhiều chủ đầu tƣ ƣa chuộng hơn hình thức đầu tƣ mới vì chi phí đầu tƣ thƣờng thấp hơn và cho phép chủ đầu tƣ tiếp cận thị trƣờng nhanh hơn. Phân loại theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư Theo tiêu chí này FDI đƣợc chia thành ba hình thức - FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): nhằm khai thác nguyên, nhiên vật liệu (Backward vertical FDI) hoặc để tiếp cận gần ngƣời tiêu dùng hơn thông qua việc mua lại các kênh phân phối ở nƣớc nhận đầu tƣ (Forward vertical FDI).
Nhƣ vậy, doanh nghiệp chủ đầu tƣ và doanh nghiệp nhận đầu tƣ nằm trong cùng một dây chuyên sản xuất và phân phối một sản phẩm cuối cùng. Luan van 9 - FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): hoạt động FDI đƣợc tiến hành nhằm sản xuất cùng loại sản phẩm hoặc các sản phẩm tƣơng tự nhƣ chủ đầu tƣ đã sản xuất ở nƣớc chủ đầu tƣ. Nhƣ vậy, yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của hình thức FDI này chính là sự khác biệt của sản phẩm. Thông thƣờng FDI theo chiều ngang đƣợc tiến hành nhằm tận dụng các lợi thế độc quyền hoặc độc quyền nhóm đặc biệt là khi việc phát triển ở thị trƣờng trong nƣớc vi phạm luật chống độc quyền.
- FDI hỗn hợp (Conglomerate FDI): Doanh nghiệp chủ đầu tƣ và doanh nghiệp tiếp nhận đầu tƣ hoạt động trong các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.