phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt. Chƣơng 2: Thực trạng thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thành phố Bắc Ninh. Chƣơng 3: Đềxuất một số giải pháp tăng cƣờng công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt theo hƣớng xã hội hóa tại thành phố Bắc Ninh. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THU GOM, VẬN CHUYỂN RÁC THẢI SINH HOẠT 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm chất thải rắn Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.[7] Chất thải rắn đƣợc hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con ngƣời và động vật tồn tại ở dạng rắn, đƣợc thải bỏ khi không còn hữu dụng hay khi không muốn dùng nữa. Khái niệm rác thải sinh hoạt Rác thải sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. Thu gom rác thải sinh hoạt Thu gom rác thải sinh hoạt là hoạt động quét dọn, tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận.
Lưu giữ rác thải sinh hoạt Lƣu giữ rác thải sinh hoạt là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi đƣợc cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trƣớc khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. Vận chuyển rác thải sinh hoạt Vận chuyển rác thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.[6] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt Xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trƣờng là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa thiết thực để huy động sự đóng góp của cộng động trong công tác bảo vệ môi trƣờng, điều này đã đƣợc thể hiện rõ trong chỉ thị số 36/CT- TW ngày 25/6/1998. Xã hội hoá bảo vệ môi trƣờng còn là quan điểm trong chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia “Bảo vệ môi trƣờng là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi ngƣời dân” (Chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020, Quyết định số 256/2003/QĐ -TTg, ngày 2/12/2003).
Quan điểm này đƣợc thể hiện rõ nhất bằng chƣơng trình xã hội hoá bảo vệ môi trƣờng; đây là 1/36 chƣơng trình, kế hoạch, đề án, dự án ƣu tiên cấp quốc gia về bảo vệ môi trƣờng (Ban hành kèm theo quyết định số 256/2003/QĐ -TTg, ngày 2/12/2003 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020). Quan điểm xã hội hoá bảo vệ môi trƣờng cần đƣợc hiểu theo quan điểm phát triển cộng đồng, phát triển bền vững, tức là phải giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng sống bằng chính nội lực với ngoại lực để đem lại lợi ích thiết thực, thiết yếu, thiết thân với mỗi ngƣời dân, mỗi cộng đồng tham gia bảo vệ môi trƣờng và toàn xã hội, không chỉ hiện tại mà cả tƣơng lai. Trong thực tế, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trƣờng đã đƣợc thực hiện ở nhiều địa phƣơng, nhiều quốc gia, dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣng cho đến nay chƣa có một khái niệm chuẩn nào về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trƣờng. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là sự kết hợp hài hòa vai trò của cộng đồng và sự quản lý của nhà nƣớc vào các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng; tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế tham gia góp sức vào thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt, chia sẻ gánh nặng với nhà nƣớc trong lĩnh vực này để nhà nƣớc tập trung và phát triển vào các lĩnh vực khác đòi hỏi đầu tƣ lớn và kỹ thuật cao hơn nhƣ công nghệ thông tin, y tế, giáo dục, kết cấu hạ tầng…Thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là trách nhiệm và lợi ích của toàn thể cộng đồng, của các thành phần kinh tế, không phải trách nhiệm của cá nhân hay của riêng nhà nƣớc.
Cho đến nay vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất nào về mô hình xã 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt mặc dù mô hình đã đƣợc thực hiện khá thành công, đạt hiệu quả cao ở nhiều địa phƣơng. Sau đây là một vài quan niệm về xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt. Theo Tiến sỹ Trần Thanh Lâm: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trƣờng để đạt mục tiêu phát triển bền vững.[5] Theo Giáo sư Nguyễn Viết Phổ: Xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng của đất nƣớc. Hay nói cách khác, xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là phải biến chủ trƣơng bảo vệ môi trƣờng thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi ngƣời dân trong xã hội.[12] Theo Sở giao thông công chính thành phố Hà Nội năm 2000: Xã hội hoá là việc vận động tổ chức toàn xã hội và nhân dân tham gia một cách rộng rãi vào công tác bảo vệ môi trƣờng nhằm cải thiện môi trƣờng và từng bƣớc nâng cao mức hƣởng thụ vật chất và tinh thần của ngƣời dân.[13] Qua các quan niệm trên cho thấy mô hình xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt là nhiệm vụ, trách nhiệm, lợi ích của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi ngƣời dân.
Thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đem lại lợi ích cho từng ngƣời nhƣng đòi hỏi mỗi ngƣời phải tham gia vào công tác bảo vệ môi trƣờng. Chỉ có sự tham gia tích cực của mọi cấp, mọi ngành, mọi ngƣời dƣới sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và sự quản lý của nhà nƣớc thì công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt mới có hiệu quả và thành công. Hiệu quả đạt đƣợc thể hiện thông qua các mặt về hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trƣờng. Riêng về mặt kinh tế thì hiệu quả chínhlà việc tiết kiệm các nguồn chi phí cho ngân sách nhà nƣớc trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt tới môi trường và sức khỏe cộng đồng a) Ảnh hƣởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trƣờng không khí Rác thải với hàm lƣợng hữu cơ và đạm cao sau khi phân hủy sẽ tạo nên các chất trung gian và cuối cùng tạo nên CH4, H2S, CO2 CH3OH, CH3CH2NH3COOH, Phenol, các chất này hầu hết đều độc và gây ô nhiễm không khí. Các trạm hoặc bãi trung chuyển rác xen kẽ với khu vực dân cƣ là nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển rác. Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí.
b) Ảnh hƣởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trƣờng nƣớc Lƣợng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mƣa các chất thải này sẽ theo dòng nƣớc chảy và hòa lẫn trong nƣớc, qua cống rãnh, ra ao hồ, sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nƣớc mặt và các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hƣởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nƣớc kém, dẫn đến ảnh hƣởng tới khả năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực. Ở các bãi chôn lấp rác thải chất ô nhiễm trong nƣớc rác là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm trong khu vực và các nguồn nƣớc ao hồ, sông suối lân cận. Tại các bãi rác, nếu không tạo đƣợc lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa nƣớc mƣa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nƣớc mặt.
c) Ảnh hƣởng của rác thải sinh hoạt đối với môi trƣờng đất Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không đƣợc thu gom sẽ lƣu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy nhƣ túi nilon, vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hƣởng tới hệ vi sinh vật đất. Nhiều loại chất thải nhƣ xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nƣớc, hút nƣớc kém, đất bị thoái hóa. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Rác thải gồm các chất hữu cơ khi bị phân hủy trong môi trƣờng đất sẽ giải phóng CH4, CO2, H2O,…kết hợp với các thành phần hóa chất, chất độc, phóng xạ, sẵn có trong rác, gây nhiễm độc môi trƣờng đất. Các độc chất này thẩm thấu trong đất làm ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm.
Hậu quả là đất mất dần độ tơi xốp trở nên chai cứng và thoái hóa dần kèm theo sự gia tăng sâu bệnh. Thoái hóa đất dẫn đến đất bị cằn cỗi không còn khả năng canh tác, hàm lƣợng Coban, Crom, Chì, Nitơ, Photpho và các kim loại nặng nhƣ Cd, Cu, Pb, và Zn xấp xỉ và vƣợt ngƣỡng cho phép. d) Ảnh hƣởng của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe cộng đồng Ô nhiễm môi trƣờng do rác thải gây ra ảnh hƣởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng.