Tổng quan nghiên cứu

Theo ước tính của các mô hình kịch bản biến đổi khí hậu, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m, Việt Nam sẽ phải đối mặt với mức thiệt hại kinh tế lên tới 17 tỉ USD mỗi năm (tương đương 10% GDP), đồng thời khiến khoảng 1/5 dân số mất nhà ở và 12,3% diện tích đất nông nghiệp canh tác bị nhấn chìm. Vùng bãi bồi cửa sông duyên hải phía Bắc, nơi có hệ sinh thái trù phú nhưng sinh kế phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên thiên nhiên, đang trở thành tâm điểm hứng chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ dồn dập, rét đậm rét hại kéo dài và xâm nhập mặn ngày càng khốc liệt.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi là đánh giá mức độ phơi lộ, tính dễ bị tổn thương và suy thoái nguồn lợi của cộng đồng dân cư vùng bờ biển trước tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Mục tiêu cụ thể là phân tích toàn diện hiện trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá năng lực thích ứng tại chỗ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thích ứng bền vững dựa vào cộng đồng cho xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

Phạm vi không gian được thực hiện trên toàn bộ diện tích 720,73 ha của xã Nam Điền, nơi tiếp giáp với cửa sông Đáy và vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy. Phạm vi thời gian bao hàm chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn thực đo suốt 57 năm (1957 - 2014) cùng kịch bản biến đổi khí hậu định hướng đến năm 2100. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc bảo vệ sinh kế cho 7.933 cư dân địa phương với 93,3% lao động thuần nông nghiệp và thủy sản, thúc đẩy thu nhập bình quân tăng từ 18,3 triệu đồng/người/năm và củng cố năng lực ứng phó trước 4 đến 6 cơn bão đổ bộ vào địa bàn mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết biến đổi khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC 2007) kết hợp lý thuyết tính chống chịu thích ứng (Adaptive Resilience). Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa gồm: Biến đổi khí hậu; Hiện tượng khí hậu cực đoan với tần suất xuất hiện thống kê dưới 10%; Tính dễ bị tổn thương được xác định là hàm số của mức độ phơi lộ, độ nhạy cảm cùng năng lực thích ứng; Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự chủ động điều chỉnh của hệ thống kinh tế - xã hội nhằm giảm thiểu rủi ro và khai thác các cơ hội phát triển mới.

Mô hình tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA) được tích hợp để dung hòa giữa tri thức bản địa từ dưới lên (bottom-up) với các quy hoạch phát triển từ trên xuống (top-down). Khung lý thuyết này bám sát định hướng của Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo cấu trúc phân tích xuyên suốt từ nguyên nhân tác động đến lựa chọn sinh kế chống chịu bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm chuỗi đo đạc nhiệt độ trạm Nam Định 54 năm (1960 - 2014) với mức tăng 0,16°C mỗi thập kỷ, chuỗi lượng mưa 57 năm (1957 - 2014), kịch bản phát thải trung bình B2 và bản đồ ngập lụt số DEM tỷ lệ 1/50.000 cùng các báo cáo phát triển kinh tế 5 năm của xã Nam Điền.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng có chủ đích với cỡ mẫu 40 đại biểu, chia làm 2 đợt thực địa độc lập (mỗi đợt 20 người). Cơ cấu mẫu đảm bảo 50% nam và 50% nữ, độ tuổi từ 25 đến 65 tuổi, bao gồm đại diện chính quyền xã, cán bộ khuyến nông, trưởng 10 thôn xóm, các hộ nghèo và người tàn tật dễ bị tổn thương cùng các hộ chuyên canh nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Lý do lựa chọn phương pháp đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRA) thông qua 9 công cụ chuyên sâu (lịch sử thiên tai, lịch mùa vụ, sơ họa bản đồ rủi ro, ma trận xếp hạng rủi ro, phân tích nguyên nhân) là vì phương pháp này cho phép huy động trực tiếp nguồn lực tại chỗ, lượng hóa chính xác các xung đột mùa vụ và nhận diện các mắt xích hạ tầng xung yếu mà các mô hình toán học thuần túy không thể bao quát hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diễn biến khí hậu tại địa bàn mang tính cực đoan rõ nét. Nhiệt độ trung bình năm đã tăng từ 23,2°C trong thập niên 1960 lên trên 24,0°C vào năm 2014 (tương đương mức tăng 0,16°C/thập kỷ). Ngược lại, tổng lượng mưa năm giảm bình quân 3,2 mm/năm trong gần 60 năm, trong đó lượng mưa mùa khô giảm 1,7 mm/năm gây thiếu hụt nước ngọt trầm trọng.

Thứ hai, nước biển dâng và xói lở bờ biển đe dọa trực tiếp đất canh tác. Mực nước biển tại bờ biển Nam Định dâng bình quân 2,15 mm/năm khiến đường bờ biển bị xói lấn sâu vào trung bình 10m mỗi năm. Nước biển dâng kết hợp triều cường đẩy độ mặn xâm nhập sâu tới 25 km trên sông Đáy vào tháng 2 và tháng 3, khiến năng suất lúa vụ Mùa năm 2015 sụt giảm nghiêm trọng xuống chỉ còn 25 tạ/ha, làm tổng sản lượng lương thực giảm 554 tấn so với năm 2014.

Thứ ba, tổn thất kinh tế phân hóa mạnh theo sinh kế và giới. Các đợt mưa dông cực đoan cục bộ đạt 180 đến 200 mm chỉ trong 1 đến 2 giờ làm độ mặn vùng bãi triều giảm đột ngột, gây hiện tượng sốc nước làm chết hàng loạt ngao và tôm trên 273 ha diện tích mặn lợ. Trong khi đó, 100% người dân chưa được tiếp cận nước máy tập trung, đẩy gánh nặng tìm kiếm nước sạch sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe gia đình lên vai phụ nữ khi dịch bệnh phát sinh sau ngập úng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân gốc rễ của tính dễ bị tổn thương cao tại Nam Điền bắt nguồn từ địa hình bãi bồi trũng thấp (cao trình nội đồng chỉ 0,5 - 0,6m) kết hợp với hạ tầng thủy lợi xuống cấp. Toàn xã có 9 cống điều tiết thì 2 cống tiêu chính có khẩu độ chỉ 1,5m trên lòng kênh rộng 8m, tạo nút thắt cổ chai gây úng ngập kéo dài khi mưa lớn trùng kỳ triều cường. So sánh với các nghiên cứu sinh kế ven biển tại Thừa Thiên Huế và Đồng bằng sông Cửu Long, mức độ suy giảm thu nhập do thiên tai tại Nam Điền có tính chất tương đồng khi nông dân quá phụ thuộc vào độc canh cây lúa và nuôi trồng quảng canh.

Các chuỗi dữ liệu thực nghiệm có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ đường thể hiện xu thế tăng nhiệt độ trạm Nam Định 1960 - 2014 và biểu đồ cột so sánh sự chênh lệch lượng mưa mùa mưa - mùa khô (chiếm 83% so với 17%). Đồng thời, bản đồ ngập lụt số hóa bằng phần mềm ArcView 3.2 theo kịch bản B2 minh chứng rõ nét xã Nam Điền nằm hoàn toàn trong vùng ngập khi nước biển dâng 30 cm vào năm 2050 và 74 cm vào năm 2100.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu toàn diện mùa vụ và sinh kế nông nghiệp: Đẩy mạnh chuyển đổi 187,69 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang mô hình trồng rau màu VietGAP chuyên canh (cà chua Motavi chịu nhiệt, dưa lê Bạch Ngọc, bí xanh) và nuôi thủy sản có giá trị cao; phấn đấu nâng giá trị thu hoạch bình quân từ 160 triệu đồng/ha lên trên 310 triệu đồng/ha trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Nam Điền phối hợp với Hợp tác xã Nông nghiệp và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghĩa Hưng.

Thứ hai, kiên cố hóa hạ tầng phòng chống thiên tai: Khẩn trương nâng cấp, mở rộng khẩu độ 2 cống tiêu xung yếu và hoàn thành kiên cố hóa 11,86 km kênh mương cấp 3 (đạt tỷ lệ kiên cố hóa 46% trước năm 2020) để đảm bảo chủ động tiêu úng cho hơn 470 ha đất sản xuất. Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn xã Nam Điền phối hợp Công ty Khai thác công trình thủy lợi huyện Nghĩa Hưng.

Thứ ba, phục hồi đai rừng ngập mặn chắn sóng cồn Xanh: Tiến hành trồng mới và bảo tồn hơn 100 ha rừng ngập mặn ven bờ giai đoạn 2017 - 2025 nhằm giảm 50% áp lực sóng va đập vào thân đê biển và ngăn chặn xói lở 10m bờ biển hàng năm. Chủ thể thực hiện: Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, cộng đồng cư dân ven biển với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam (VFD).

Thứ tư, nâng cao năng lực cấp nước sạch và cảnh báo sớm: Xây dựng trạm cấp nước sạch tập trung đảm bảo 100% hộ dân tiếp cận nước hợp vệ sinh vào năm 2020, đồng thời thành lập mạng lưới quan trắc mặn - mưa bão cộng đồng tại 10 xóm để cung cấp bản tin cảnh báo trước 48 giờ. Chủ thể thực hiện: Trạm Y tế xã, Hội Phụ nữ và UBND xã Nam Điền.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý quy hoạch và chính quyền địa phương ven biển: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và bản đồ số DEM ngập lụt để trực tiếp lồng ghép các chỉ tiêu thích ứng biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất 330 - 350 ha nông nghiệp và đề án xây dựng nông thôn mới của huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2020 - 2030.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Môi trường: Sử dụng như một công trình mẫu mực về phương pháp luận kết hợp định lượng khí tượng thủy văn 57 năm với quy trình 9 công cụ CBDRA có sự tham gia của người dân tại dải ven duyên hải châu thổ sông Hồng.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ phát triển quốc tế: Sử dụng cơ sở phân tích rủi ro theo giới và sinh kế để thiết kế các dự án viện trợ quản lý rủi ro thiên tai, phục hồi rừng ngập mặn và hỗ trợ phụ nữ thích ứng khí hậu tại các dải bờ biển dễ tổn thương.

Thứ tư, hợp tác xã và các hộ dân nuôi trồng thủy sản, trồng trọt: Tham khảo khung lịch mùa vụ điều chỉnh và các giống cây con chống chịu mặn như cà chua chịu nhiệt, dưa lê, cá bống bớp, cá vược nhằm né tránh các tháng cao điểm bão lũ tháng 7 đến tháng 9 để bảo toàn nguồn vốn sản xuất.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao xã Nam Điền được xem là điểm nóng dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu? Trả lời: Xã Nam Điền nằm ngay cửa sông Đáy với cao trình nội đồng rất thấp, chỉ từ 0,5 đến 0,6m, chịu tác động trực tiếp của 4 đến 6 cơn bão mỗi năm. Tốc độ dâng mực nước biển 2,15 mm/năm cùng hiện tượng xói lở 10m bờ biển hàng năm khiến nước mặn xâm nhập sâu 25 km, đe dọa nghiêm trọng an ninh nguồn nước và canh tác lúa của 7.933 nhân khẩu.

Câu hỏi 2: Mô hình sinh kế nào chứng minh được hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng cao nhất tại Nam Điền? Trả lời: Mô hình chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang trồng cà chua và dưa màu VietGAP mang lại doanh thu vượt trội đạt 310 triệu đồng/ha, cao gấp gần 6 lần canh tác lúa truyền thống. Ngoài ra, việc luân canh tôm - lúa và nuôi ghép cá bống bớp, cua biển giúp giảm thiểu rủi ro sốc nước ngọt khi xảy ra mưa lũ cực đoan.

Câu hỏi 3: Phương pháp đánh giá rủi ro dựa vào cộng đồng (CBDRA) mang lại giá trị thực tiễn gì cho địa phương? Trả lời: CBDRA tập hợp tiếng nói của 40 đại diện người dân từ 10 xóm thông qua 9 công cụ phân tích có sự tham gia. Phương pháp này giúp phát hiện chính xác các điểm nghẽn kỹ thuật như 2 cống tiêu có khẩu độ hẹp 1,5m, đồng thời tích hợp tri thức bản địa vào việc xây dựng phương án phòng chống thiên tai sát thực tế.

Câu hỏi 4: Rừng ngập mặn tại bãi bồi cồn Xanh đóng vai trò sinh thái và kinh tế ra sao đối với cộng đồng? Trả lời: Rừng ngập mặn cồn Xanh là hệ sinh thái trù phú với hơn 600 loài sinh vật, đóng vai trò đai rừng phòng hộ làm suy giảm sóng gió bão cấp 8 và chống xói mòn đê biển. Đồng thời, đây là bãi đẻ tự nhiên của 100 loài động vật đáy giá trị cao, tạo nguồn sinh kế khai thác ổn định cho 7.403 lao động nông - ngư nghiệp.

Câu hỏi 5: Luận văn đã chỉ ra những rủi ro khí hậu đặc thù nào đối với phụ nữ vùng ven biển? Trả lời: Do 100% hộ dân chưa có nước sạch tập trung, phụ nữ chịu áp lực nặng nề trong việc tích trữ và xử lý nước mưa, nước giếng khi ngập mặn xảy ra. Khi thiên tai làm thất thu mùa màng và bùng phát dịch bệnh, phụ nữ vừa mất thu nhập vừa phải gánh thêm thời gian chăm sóc gia đình, khiến năng lực thích ứng bị suy giảm đáng kể.

Kết luận

  • Hệ thống hóa chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 57 năm, lượng hóa mức tăng nhiệt độ 0,16°C/thập kỷ và xu thế suy giảm lượng mưa 3,2 mm/năm tại Nam Định.
  • Xác định rõ mức độ tổn thương của 7.933 người dân ven biển trước tốc độ nước biển dâng 2,15 mm/năm và nguy cơ bão lũ cực đoan.
  • Khẳng định hiệu quả vượt trội của mô hình chuyển đổi 187,69 ha đất lúa sang cây màu và nuôi thủy sản, đạt giá trị 310 triệu đồng/ha/năm.
  • Chuẩn hóa quy trình 9 công cụ CBDRA nhằm phát huy tri thức bản địa trong quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình với mục tiêu kiên cố hóa 11,86 km kênh mương và bảo tồn rừng ngập mặn đến năm 2020.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch sử dụng đất và nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng ven biển châu thổ sông Hồng. Trong giai đoạn 2018 - 2025, chính quyền địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn lực hoàn thiện hệ thống thủy lợi và phục hồi rừng ngập mặn. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng hãy cùng hành động ngay hôm nay để nhân rộng các mô hình sinh kế thông minh với khí hậu, xây dựng một tương lai an toàn và thịnh vượng trước biến đổi khí hậu toàn cầu.