CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Lao động Lao động là một trong những hình thức hoạt động của con người vào thực tiễn nhằm biến đổi và tạo ra các của cải vật chất nhằm phục vụ cho lợi ích đời sống của con người. Hoạt động lao động giúp con người tồn tại, hình thành và phát triển nhân cách thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân, từ đó, thể hiện được giá trị của mình trong xã hội.
Lao động là điều kiện chủ yếu cho sự tồn tại của loài người, là cơ sở tiền đề tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính vì vai trò của con người vô cùng quan trọng, nên chúng ta cần tìm cách khai thác được tối đa sức lao động của con người, nâng cao tri thức và khả năng sáng tạo của con người, nhằm tạo sự phát triển cho nền kinh tế của đất. Sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội.
Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Nguồn lao động là bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đến hết 55 tuổi). Lực lượng lao động của một quốc gia hay một địa phương là bộ phận 8 dân số trong tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động, có mong muốn lao động, đang có việc làm hoặc đang tìm việc làm. Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm (gọi là người thất nghiệp).
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình. Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Việc làm Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất.
Một người lao động có việc làm khi có một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Thông qua việc làm, người lao động thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm và thu nhập. Ở mỗi một giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, khái niệm việc làm lại được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Trước đây, trong nền cơ chế kế hoạch hóa tập trung, những người lao động làm việc trong khu vực thể chế kinh tế, khu vực nhà nước, khu vực tập thể là những người được coi là có việc làm.
Hiện nay, sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nên nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, quan niệm việc làm đã được thay đổi. Theo điều 13 chương 3 Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 1994 đã ban hành: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp 9 luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Tuy nhiên, quan niệm của người lao động về việc làm trong giai đoạn này cũng có thay đổi. Trước đây, nhiều người quan niệm rằng chỉ làm việc trong các xí nghiệp quốc doanh và nằm trong biên chế nhà nước thì mới được coi là có công việc ổn định, còn việc làm trong các thành phần kinh tế khác thì bị coi là không có công việc ổn định.
Vì vậy, nhiều người cố gắng xin vào làm việc trong nhà nước. Hiện nay, đối với nhiều người quan niệm này không còn mang nặng. Với họ, chỉ cần tìm được công việc phù hợp, có thu nhập cao và được nhà nước khuyến khích thì họ sẵn sàng làm. Có thể nói yếu tố việc làm và yếu tố lao động có liên quan đến nhau, cùng phản ánh đến lợi ích của một con người.
Tuy nhiên, hai phạm trù này không giống nhau, bởi có việc làm thì chắc chắn có lao động, nhưng ngược lại có lao động chưa chắc đã có việc làm, bởi nó còn phụ thuộc vào mức độ ổn định của công việc mà người lao động đang làm. Phân loại việc làm: a. Phân theo mức độ sử dụng thời gian lao động Việc làm đầy đủ: là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm của bất cứ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động, muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn.
Tuy nhiên, việc xác định số người có việc làm theo khái niệm này vẫn chưa phản ánh được chính xác trình độ sử dụng lao động xã hội vì không đề cập đến chất lượng của công việc làm. Thực tế, nhiều người lao động đang có việc làm nhưng chỉ làm nửa ngày hoặc việc có năng suất, thu nhập thấp. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh: mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập. Mọi việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đủ thời gian lao động theo luật định (8 tiếng/ngày), đồng thời, việc này phải mang lại thu nhập không thấp 10 hơn mức lương tối thiểu của người lao động (hiện nay nước ta quy định mức lương tối thiểu chung là 1.000 đồng một người một tháng).
Vậy những người làm việc đủ thời gian quy định và có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành là những người có việc làm đầy đủ. Thiếu việc làm: là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động sử dụng hết thời gian lao động của mình, tạo thu nhập cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu. Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ( viết tắt : ILO), thiếu việc làm được chia ra làm 2 dạng : Thiếu việc làm vô hình: là những người có đầy đủ việc làm, làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng lại có thu nhập thấp do tay nghề kém, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém khiến năng suất thấp, thường có nhu cầu tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn. Thiếu việc làm hữu hình: là những người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc và luôn sẵn sàng để làm việc.
Thất nghiệp: là hiện tượng những người trong độ tuổi lao động tại thời điểm điều tra ở trong tình trạng không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Nhu cầu này thể hiện thông qua các hoạt động tích cực tìm việc. Thất nghiệp được chia thành nhiều loại : Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người trong giải đoạn chuyển từ chỗ làm này qua chỗ làm khác. Thất nghiệp cơ cấu: là sự mất việc kéo dài trong các ngành hoặc vùng có sử giảm sút kéo dài về nhu cầu lao động do thay đổi cơ cấu nền kinh tế.
Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh tế. Thất nghiệp kỹ thuật: Do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc 11 công nghệ tiên tiến hơn. Thất nghiệp thông thường: khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhận được. Thất nghiệp theo học thuyết Mark: là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làm việc và giữ mức lương thấp.
Thất nghiệp theo mùa: khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết. Phân theo vị trí lao động của người lao động. Việc làm chính: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. Việc làm phụ: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian sau công việc chính.
Phân theo vị trí lao động của người lao động Việc làm chính: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và đòi hỏi yêu cầu của công việc cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. Việc làm phụ: là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian sau công việc chính. Tạo việc làm “Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động”. Tạo việc làm cho người lao động là đưa người lao động vào làm việc để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trường.
Cơ chế tạo việc làm là cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của người lao động, nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường đúng lúc, đúng chỗ. 12 - Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào nuồn tài trợ(gia đình và xã hội) để tham gia, phát triển, xác định cho mình một nghề nghiệp nhất định. - Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộ phận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động.