Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong một tổ chức Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, người lao động tại Cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho cán bộ, công chức, người lao động tại Cơ quan Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Giang.1 K Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách trả lời cho câu hỏi tại sao con người lại lao động và làm việc và tại sao mỗi người lại có những cách làm việc khác nhau cũng như hiệu quả không giống nhau. Trả lời cho những câu hỏi đó chính là đi tìm nguồn gốc hoạt động của mỗi con người hay nói cách khác là đi tìm hiểu động lực làm việc của mỗi người và tìm cách tạo động lực cho người lao động trong quá trình làm việc đó. Vậy động lực là gì? Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về động lực, tùy theo cách tiếp cận và nhìn nhận dưới góc độ nào. Theo Từ điển Tiếng Anh Longma thì “Động lực là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi gợi và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi”.
Theo từ điển Tâm lý học, động lực được hiểu là: Cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thoả mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực - Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân thì: Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Theo Giáo trình Hành vi tổ chức - Nhà xuất bản Thống kê “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”.
Động lực có tác động rất lớn đến việc thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Điều đó có thể lý giải tại sao một người có trình độ cao làm việc tại một tổ chức nhưng kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kỳ vọng, một phần nguyên nhân quan trọng là do người đó không có động lực để làm việc. Tóm lại, động lực làm việc là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích người lao động làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra hiệu quả cao được biểu hiện là sự sẵn sàng, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và của bản thân. 5 Tạo động lực làm việc là vấn đề quan lý mà mỗi tổ chức, các nhà quản trị trong tổ chức đều muốn thực hiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc, xây dựng tổ chức vững mạnh.
Vậy tạo động lực là gì? Theo giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp của TS. Hà Văn Hội: “Tạo động lực là hệ thống các phương pháp, chính sách, thủ thuật của nhà quản lý tác động đến người lao động”. Tạo động lực được hiểu là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người lao động. Tạo động lực bao gồm tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng nhằm tạo ra động cơ cho người lao động, ví dụ như: thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần… Tạo động lực là một quá trình phức tạp.
Trong lịch sử đã diễn ra hai loại tác động: Một là: Cưỡng bức người lao động thông qua các biện pháp siêu kinh tế và cưỡng bức kinh tế. Các biện pháp này diễn ra trong các chế độ tư hữu, nhất là thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Biện pháp này, ngày nay không được áp dụng rộng rãi. Hai là: Kích thích người lao động thông qua các biện pháp khuyết khích vật chất và tinh thần đối với người lao động để tạo ra động lực làm việc.
Loại tác động thứ hai này ngày nay được áp dụng rộng rãi trong các tổ chức, doanh nghiệp. Nhà quản trị muốn người lao động nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong tổ chức có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức. Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào” 1.
S Động lực thúc đẩy hành vi ở hai góc độ trái ngược nhau là tích cực và chưa tích cực. Người lao động có động lực tốt thì sẽ ý thức được công việc mình đang thực hiện, có thái độ và tinh thần làm việc hăng say, nhiệt tình, yêu công việc, sáng tạo, vượt khó, hoàn thành tốt công việc, luôn coi trọng tổ chức và gắn mục tiêu của cá nhân vào mục tiêu chung của tổ chức, góp phần làm cho tổ chức ngày càng vững mạnh hơn. Ngược lại, người lao động thiếu động lực làm việc tích cực sẽ nảy sinh tâm lý chán nản, mâu thuẫn và có thể xảy ra xung đột trong bản thân và với những đồng nghiệp ảnh hưởng tới tâm lý và hiệu quả hoạt động của cá nhân họ và của tổ chức. Tạo động lực làm việc tốt sẽ mang lại những lợi ích hữu hình và vô hình cho tổ chức.
Trước hết sẽ tác động trực tiếp đến tình thần, thái độ làm việc và kết quả 6 thực hiện công việc của người lao động, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả hoạt động và sự thành công, phát triển của tổ chức. Người lao động có động lực làm việc tốt sẽ có sự thỏa mãn cao với công việc đang làm, từ đó làm việc với trạng thái tâm lý vui vẻ, thích thú, gắn bó với công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức. Không ngừng phấn đấu học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp mới, những cách thức mới để hoàn thành công việc với thời gian nhanh nhất và chi phí là thấp nhất. Mặt khác, người lao động có động lực làm việc tích cực sẽ giúp họ tạo dựng vị thế cho bản thân trong tổ chức, có nhiều cơ hội thăng tiến, có thể có những thu nhập ngoài lương một cách chính đáng… Đồng thời, theo cơ chế lan truyền tâm lý động lực làm việc tích cực của một người có thể lây lan sang những người xung quanh và từ đó tạo nên một trạng thái tâm lý chung trong tổ chức Chính những lợi ích to lớn mà tạo động lực làm việc cho người lao động mang lại mà các nhà quản trị hiện đại luôn coi đây là vấn đề quan trọng và cần thiết có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của tổ chức.1 Đối với cá nhân Tạo động lực làm việc có ý nghĩa rất lớn đối với cá nhân người lao động, đó là cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của chính mình.
Bởi tạo động lực làm việc cho người lao động là tìm hiểu người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì, từ đó tìm cách thúc đẩy động họ lao động. Hệ thống mục tiêu chính của người lao động gồm: mục tiêu thu nhập, đây là mục tiêu quan trọng nhất bởi vì thu nhập giúp người lao động trang trải cuộc sống, đảm bảo cho sự sống và phát triển; Mục tiêu phát triển cá nhân, đây là mục tiêu mà người lao động mong muốn tự làm hoàn thiện mình thông qua các hoạt động đào tạo, phát triển, các hoạt động văn hóa, xã hội; Mục tiêu thỏa mãn nhu cầu được tham gia vào các hoạt động xã hội để tự khẳng định mình. Như vậy tạo động lực lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu của mình. Mặt khác tạo động lực làm việc cho người lao động giúp họ làm việc thoải mái, nhiều sáng tạo, cải tiến trong hoạt động lao động của mình, từ đó nâng cao hiệu quả công việc và nâng cao thu nhập, đồng thời khi làm việc với tinh thần thoải mái, do yêu thích công việc và văn hóa đơn vị, người lao động sẽ tìm được niềm vui trong công việc của mình, từ đó tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần to lớn cho bản thân người lao động.2 Đối với tổ chức Một tổ chức làm tốt công tác tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ giúp cho người lao động có tâm trạng hứng thú, thoải mái thực hiện công việc, sẽ 7 hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất, do đó giúp đơn vị tăng hiệu quả, năng suất lao động.
Đồng thời sẽ làm cho người lao động yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với đơn vị, tạo điều kiện để thu hút và giữ chân nhân tài, qua đó tạo thế cạnh tranh cho tổ chức. Sự tồn tại và phát triển của tổ chức phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của các thành viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những con người tâm huyết, hết lòng vì đơn vị. Không một đơn vị nào có thể tồn tại và phát triển với những con người làm việc hời hợt, tâm lý luôn luôn chán nản, chán công việc. Chính vì thế, bất cứ tổ chức nào cũng cần phải quan tâm tạo động lực lao động cho người lao động.3 Đối với xã hội Tăng năng suất lao động có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người, nó là động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.
Để giải quyết bài toán tăng năng suất lao động thì yếu tố cần thiết thúc đẩy đó là tạo động lực làm việc cho người lao động.