Đặt vấn đề Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển, bức tranh chung về thương mại hàng hóa Việt Nam với thế giới từ năm 2003 đến nay là giá trị nhập khẩu lớn hơn so với giá trị xuất khẩu, thâm hụt tăng dần theo thời gian. Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam nói chung xác lập vị thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu ở nhóm hàng hóa cơ bản như dầu mỏ và khoáng sản, nông sản, hàng dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ và điện tử. Đây là những ngành thâm dụng lao động lớn nhưng về xu thế không còn tăng trưởng nhanh trên thế giới, đồng thời rất dễ bị ảnh hưởng bởi việc hạ thấp chi phí từ các đối thủ mới có chi phí lao động thấp. Sau các bài báo tiên phong của Melitz (2004), Melitz & Ottaviano (2003) và Bernard & cộng sự (2003) đã đưa ra các giả định về doanh nghiệp đại diện cho các ngành và lý thuyết nền về mối quan hệ giữa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm không đồng nhất và sự cân bằng trong thương mại quốc tế.
Giả định quan trọng trong lý thuyết này đó chính là những doanh nghiệp có năng suất các nhân tố tổng hợp cao sẽ tự đưa ra quyết định của họ về việc có tham gia vào thị trường xuất khẩu hay không. Giả định này cung cấp cho chúng ta kết quả đó là tồn tại một mối quan hệ nhân quả từ năng suất doanh nghiệp và khả năng tham gia xuất khẩu. Theo kết quả trong báo cáo điều tra về năng lực cạnh tranh công nghệ ở Việt Nam (2011) thì 28% doanh nghiệp được hỏi cho biết lãi suất cao là khó khăn chính của họ, 19% nói rằng lạm phát cao và biến động ảnh hưởng tiêu cực đến việc kinh doanh của họ, 17,5% trong số trên 10 nghìn doanh nghiệp cho biết họ khó tiếp cận vốn vay và 7% nói rằng doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nguồn điện cung cấp không ổn định và chính sách kinh tế vĩ mô không thể dự đoán được. Có thể vì lý do này mà doanh nghiệp Việt Nam khó lòng đầu tư nâng cao năng suất sản xuất của họ để hướng ra thị trường xuất khẩu nếu không có sự trợ giúp từ phía chính phủ.
Ở bài luận văn này, tác giả sẽ tập trung ở một cấp độ vi mô hơn và chọn ngành dệt may làm đối tượng để nghiên cứu. Nghiên cứu này sẽ cung cấp một kiểm tra thực nghiệm về mối quan hệ giữa năng suất doanh nghiệp và việc quyết định tham gia 2 vào thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc 3 lĩnh vực trong ngành dệt may đó là: sản xuất sợi, ngành dệt và sản xuất trang phục.2 Bối cảnh ngành Dệt may Việt Nam: Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến tay người tiêu dùng. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã đem lại cho ngành Dệt may Việt Nam những cơ hội rất lớn về thị trường, về đầu tư, và trên khía cạnh hội nhập quốc tế về chính sách, pháp luật và đàm phán. Nhìn chung nhà nước ta cũng có sự quan tâm các vấn đề về chính sách cũng như về toàn cầu hóa, định hướng ngành dệt may theo hướng xuất khẩu, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập về nguồn nguyên vật liệu, ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may, các chính sách vi mô để có thể thúc đẩy ngành phát triển hơn.
Ngoài ra, ngành Dệt may nước ta vẫn còn nhiều hạn chế về công nghệ, trình độ người lao động chưa cao, nguồn vốn chưa dồi dào, nên năng suất các yếu tố tổng hợp vẫn còn nhiều hạn chế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, qua bảng 1.1 về cấu trúc của ngành cho chúng ta thấy, ngành dệt may có chu kỳ ngành tương đối phát triển, có những biến động về doanh thu thấp nên cũng có một sự hấp dẫn tương đối đối với các doanh nghiệp ngoài ngành. Tuy vậy, đối với ngành dệt may ở nước ta thì mức độ hỗ trợ, mức độ tập trung và mức độ toàn cầu hóa tương đối thấp. Đặc biệt, khả năng gia nhập vào thị trường xuất khẩu tỏ ra rất khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam.
Từ các yếu tố trên đã đặt ra câu hỏi liệu việc khó khăn trong gia nhập vào thị trường xuất khẩu có liên quan tới năng suất các nhân tố tổng hợp của các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may hay không? 3 Bảng 1.1 Cấu trúc ngành Chu kỳ ngành Phát triển Rào cản gia nhập ngành Thấp/Cao* Biến động doanh thu Thấp Mức độ toàn cầu hóa Thấp Hỗ trợ ngành Thấp Mức độ cạnh tranh Cao Mức độ tập trung Thấp Mức độ quy định Trung bình * Rào cản gia nhập ngành Thấp đối với kinh doanh nội địa, Cao đối với kinh doanh xuất khẩu Nguồn: VITAS 2014 1.3 Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam. Xác định tác động của năng suất các yếu tố tổng hợp đến khả năng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may. Kiến nghị một số gợi ý về chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động tham gia thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may.4 Câu hỏi nghiên cứu Bài viết nỗ lực trả lời câu hỏi trọng tâm: “ Phải chăng các doanh nghiệp có năng suất nhân tố tổng hợp cao sẽ có xu hướng tham gia vào thị trường xuất khẩu ?” thông qua việc lần lượt trả lời các câu hỏi cụ thể: Năng suất các nhân tố tổng hợp tác động như thế nào đến hành vi tham gia vào thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may Việt Nam? Chính sách nhằm cải thiện và thúc đẩy năng suất nhân tố tổng hợp cho ngành dệt may ở nước ta như thế nào để khẳng định vị thế trên thị trường xuất khẩu ? 1.5 Phƣơng pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo ở cấp độ ngành với ngành được chọn là ngành dệt may Việt Nam, trong giai đoạn 2008 - 2010. Dữ liệu tính toán chủ yếu lấy từ Niên giám thống kê hàng năm và trên trang web của Tổng cục thống kê.
Nghiên 4 cứu sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow (1956) để tính toán tăng trưởng TFP và sử dụng phương pháp ước lượng hàm phân phối tích lũy CDF hồi quy phương trình probit để đánh giá tác động năng suất nhân tố tổng hợp TFP lên khả năng tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu nhằm kiểm định lại các kết quả của các nghiên cứu trước về mối liên hệ giữa TFP và khả năng tham gia thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc ngành Dệt may Việt Nam. Sau đó, tác giả sẽ đưa ra một số gợi ý về mặc chính sách để nâng cao năng suất, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng tham gia vào thị trường xuất khẩu.6 Cấu trúc luận văn Luận văn gồm có 5 chương, tiếp sau chương giới thiệu là chương 2, chương này trình bày cơ sở lý thuyết sử dụng để đánh giá tác động của TFP đến tỷ lệ tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua các mô hình. Trong chương này cũng sẽ nêu ra một số nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu này.
Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm mô tả số liệu và mô hình phân tích. Phần kết quả và thảo luận về chỉ số TFP và tác động của nó đến khả năng tham gia xuất khẩu của các doanh nghiệp sẽ được trình bày ở chương 4. Chương 5 sẽ là phần kết luận, kiến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG SUẤT VÀ KHẢ NĂNG THAM GIA XUẤT KHẨU Trong phần này, đầu tiên tác giả sẽ khái quát về TFP và những nhân tố tác động đến TFP sau đó sẽ tìm mối quan hệ giữa khả năng tham gia thị trường xuất khẩu và năng suất nhân tố tổng hợp và cuối cùng là tóm tắt một số nghiên cứu liên quan.
Đối với nghiên cứu này, năng suất nhân tố tổng hợp TFP sẽ được tác giả sử dụng như là năng suất của doanh nghiệp và xuất khẩu của doanh nghiệp ở đây chính là hành vi tham gia vào thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp đó.1 Khái niệm và nhân tố tác động đến năng suất 2.1 Khái niệm Năng suất nhân tố tổng hợp TFP hay còn được gọi là phần dư Solow được đưa ra lần đầu tiên bởi Robert Solow trong nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng kinh tế của mình năm 1956. Khái niệm TFP ban đầu được dùng trong phân tích vĩ mô, nhưng sau đó nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích vi mô ở cấp độ ngành hay doanh nghiệp. Theo Solow (1956) hàm sản xuất được viết dưới dạng: Y = A(t)F(K,L) , A(t) chính là TFP.1) Nhiều nghiên cứu cho rằng TFP thể hiện một phần của đầu ra còn lại không giải thích được sự đóng góp trong các yếu tố đầu vào. Cụ thể, TFP đo lường đóng góp cho đầu ra của nền kinh tế vượt ra ngoài đóng góp bởi số lượng lao động, máy móc và vốn sử dụng.
Như vậy, TFP phản ảnh tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, của giáo dục và đào tạo, qua đó gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn vào cả chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động. Tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động. Cùng với lượng đầu vào như nhau, lượng đầu ra có thể lớn hơn nhờ vào việc cải tiến chất lượng của lao động, của vốn và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực này. Do đó, việc tăng TFP ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khi mà nền kinh tế hiện nay đang chuyển sang hướng phát triển mới.
Nâng cao 6 TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất cùng với đầu vào. Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng mức lương thuởng, điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn. Đối với doanh nghiệp thì có khả năng mở rộng tái sản xuất.