CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1. Tổng quan về tạo động lực lao động 1. Khái niệm và phân loại nhu cầu Mỗi hoạt động của con người lại hướng vào những cái đích nhất định, khi tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn nào đó, có thể là nhu cầu về vật chất hoặc nhu cầu về tinh thần. Việc không ngừng thỏa mãn những nhu cầu của cong người là một trong những nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm.
Vì vậy để hiểu hơn về khái niệm tạo động lực lao động trước hết ta tìm hiểu như thế nào là nhu cầu của con người và nắm rõ được điều này ta có thể có những phương pháp cụ thể để tạo động lực cho từng cá nhân nói riêng và tập thể người lao động nói chung. ❖Khái niệm: Theo PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS Nguyên Thị Ngọc Huyên trong cuốn Giáo trình Khoa học Quản lý II xuất bản năm 2002 cho rằng: “Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn và không thoải mái về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người, cộng đồng và tập thể” ❖Phân loại nhu cầu: gồm hai dạng cơ bản - Nhu cầu về vật chất: Là các nhu cầu về thức ăn, nước uống, đảm bảo cho người lao động có thể sống được, thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu cùng với sự phát triển của xã hội. - Nhu cầu tinh thần: Là các nhu cầu bậc cao hơn, người lao động cũng rất phong phú, nó đòi hỏi những điều kiện để con người tồn tại và phát triển về mặt trí lực nhằm tạo ra tâm lý thoải mái.
Nhu cầu con người luôn luôn biến đổi, với mỗi cá nhân khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo quan điểm của từng cá nhân. Tuy nhiên, cả hai yếu tố vật chất và tinh thần cùng lúc tồn tại trong bản thân người lao động. Sinh viên: Hoàng Thị Oanh 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG 1. Khái niệm động cơ và động lực Nhiều người vẫn nghĩ rằng động cơ và động lực chỉ là cách gọi khác nhau nhưng ta cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm động cơ và động lực.
❖Động cơ “Bạn có nghĩ vì sao bạn phải dậy mỗi sáng tới công ty hay chỗ làm. Lý do phải đến đó, bởi mỗi tháng bạn cần một số tiền”. Đó chính là động cơ. Vậy động cơ là những nguyên nhân tâm lý xác định hành động có định hướng của cong người, xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu của người lao động nhưng chỉ những nhu cầu nào được nhận thức rõ và thúc đẩy con người hoạt động để toản mãn nhu cầu đó thì mới trở thành động cơ của hoạt động.
Động cơ là một nhân tố đầu tiên trong dây chuyền phản ứng xuất hiện từ những áp lực hay bức xúc tâm sinh lý nảy sinh do các tác nhân bên ngoài. ❖Động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế, động lực được định nghĩa theo nhiều các khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt: “Động cơ được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” Theo nhà nghiên cứu Mitchellong cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” Theo nhà nghiên cứu Bolton: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”. Từ những định nghĩa trên, đưa ra khái niệm chug nhất về động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu cua tổ chức Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người.
Có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến đông lực: (1) Yếu tố thuộc về bản chất con người (yếu tố bên trong) thúc đẩy con người làm việc: lợi ích, mục tiêu cá nhân, khả năng, kinh nghiệm. (2) Môi trường làm việc: Văn hóa, chính sách của công ty. (3) Bản chất công việc: Tính ổn định, nhiệm vụ, trách nhiệm, sự phức tạp cũng như tính lý thú của công việc. Như vậy, động cơ và động lực khác nhau ở chỗ đó là: động cơ là tính “hợp lý do” để cá nhân tham gia vào quá trình lao động”, còn động lực là “mức Sinh viên: Hoàng Thị Oanh 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG độ hưng phấn” của cá nhân khi tham gia làm việc.
Vậy làm thế nào để người lao động “làm việc hết mình” cho tổ chức, ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về “tạo động lực”. Khái niệm tạo động lực lao động Qua những khái niệm ở trên ta có thể đưa ra khái niệm về tạo động lực trong lao động là việc xây dựng, thực thi các biện pháp, giải pháp, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật. thông qua các đòn bẩy về kích thích vật chất và tinh thần”. Vậy vấn đề quan trọng của tạo động lực là mục tiêu.
Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết được mục đích hướng tới của người lao động sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Nhà quản trị muốn nhân viên muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Các nhà quản trị đã từng nói : “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nàò”. Mục đích, vai trò, ý nghĩa của tạo động lực lao động 1. Mục đích của tạo động lực Công tác tạo động lực cho người lao động nhằm mục đích chính là khai thác, sử dụng, phát huy một cách hợp lý hiệu quả nguồn lao động của tổ chức để đạt được những mục tiêu chung của tổ chức. Việc tạo động lực cho người lao động sẽ giúp cho họ yêu thích công việc của mình hơn, gắn bó với nó, tích cực làm việc từ đó đem hiệu quả cao trong công việc, đem lại những lợi ích to lớn cho tổ chức.
Vai trò của tạo động lực Vai trò của hoạt động tạo động lực được xét trên cả 3 khía cạnh: người lao động, doanh nghiệp và cả xã hội đều vô cùng quan trọng: Sinh viên: Hoàng Thị Oanh 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Người lao động: Động lực sẽ tạo cho người lao động những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình: Cải thiện điều kiện sống, cảm giác thoải mái về tinh thần, có cơ hội thuận lợi tham gia các hoạt động xã hội. Doanh nghiệp: Với xu hướng phẳng ngày càng lan rộng, doanh nghiệp ngày càng tiếp xúc nhiều hơn với các nguồn lực bên ngoài. Do đó, quan tâm tới thái độ làm việc của nhân viên là rất quan trọng. Nguồn nhân lực không phải là vô giá, sử dụng hiệu quả lao động là cách tốt nhất để giảm chi phí lao động, nâng cao năng suất, phát triển cơ sở vật chất, cơ sở kỹ thuật.
Từ đó, doanh nghiệp có thể giám giá thành sản phẩm thúc đẩy cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Bên cạnh đó công tác tạo động lực còn nhằm mục đích thu hút và gắn bó người lao động với doanh nghiệp, không chỉ lao động trong doanh nghiệp mà cả những người ngoài doanh nghiệp. Mặt xã hội: Năng suất lao động tăng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, phát triển các ngành dịch vụ giải trí. Đồng thời con người yêu thích lao động thể hiện một xã hội văn minh và phát triển.
Ý nghĩa của tạo động lực Công tác tạo động lực có ý nghĩa vô cùng lớn đến công ty nói chung và phòng tổ chức lao động nói riêng bởi đây là phòng chịu trách nhiệm chính về công tác nhân sự. Khi phòng lao động thực hiện tốt công tác về nhân sự sẽ tạo điều kiện cho việc tạo động lực đối với người lao động làm cho họ làm việc hiệu quả góp phần vào sự thành công của công ty 1. Một số học thuyết về tạo động lực lao động 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Moslow cho rằng: Con người có những cấp độ khác nhau về nhu cầu, có những nhu cầu ở cấp độ thấp, có những nhu cầu ở cấp độ cao.
Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp thỏa mãn thì ngay lập tức các nhu cầu ở cấp độ cao hơn trở thành tác lực để thúc đẩy con người hành động. Theo ông có 5 cấp độ khác nhau về nhu cầu được thể hiện trong hệ thống thứ bậc các nhu cẩu của Maslow (hay còn gọi là tháp Moslow) như: Sinh viên: Hoàng Thị Oanh 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Biểu đồ 1. Tháp nhu cầu của Maslow1 Trong năm nhu cầu trên nhu cầu về sinh lý học (Physiological Needs) là nhu cầu thấp nhất của con người. Nhu cầu sinh lý học bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất, thiết yếu nhất giúp cho con người tồn tại.
Đó là nhu cầu: ăn, mặc, ở, đi lại và một số nhu cầu cơ bản khác. Tiếp theo là nhu cầu an toàn (Safety needs), nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn. Con người muốn được bảo vệ, bảo vệ chống lại những điều bất chắc hoặc nhu cầu tự mình bảo vê. Nhu cầu xã hội (Social needs) là một trong những nhu cầu bậc cao của con người.
Nhu cầu xã hội bao gồm: nhu cầu giao tiếp, nói chuyện với người khác để được thể hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hiệp tác, nhu cầu được chia sẻ yêu thương. Cao hơn nữa là nhu cầu tôn trọng (Esteem).