MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp có gần 70% dân số sống tập trung ở khu vực nông thôn và chiếm gần 20% tổng thu nhập quốc dân. Cho nên có thể nói rằng nông nghiệp nước ta vẫn luôn là mặt trận hàng đầu, có tầm quan trọng chiến lược, ổn định sản xuất nông nghiệp, ổn định cuộc sống nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của đất nước. Chính vì lẽ đó mà chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay nhằm từng bước cải thiện bộ mặt nông thôn Việt Nam trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để có khả năng kinh doanh tốt cũng như tạo ra ưu thế và quy mô kinh doanh phù hợp hay để mua máy móc thay cho lao động thủ công nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian lao động, mua giống, phân bón, thức ăn gia súc có chất lượng tốt đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp cũng như người nông dân phải đầu tư thêm nhiều vốn. Nhưng lượng vốn vay bao nhiêu thì đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ, thời gian vay và lãi suất vay ở mức độ nào thì hộ có thể chấp nhận được với lượng vốn vay và thời hạn vay như vậy? Bên cạnh đó việc xác định thời điểm nào người nông dân có nhu cầu vay vốn cao? Làm thế nào để nông dân tiếp cận vốn một cách kịp thời và thuận lợi nhất? Những hộ nông dân khi đã có vốn thì họ sản xuất kinh doanh như thế nào? Có sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Đây cũng là vấn đề mà các tổ chức cung cấp tín dụng cần quan tâm để có kế hoạch cung ứng vốn cho các hộ nông dân kịp thời, đầy đủ và có hiệu quả nhất. Đặc biệt khi đã hội nhập quốc tế, để các mặt hàng nông sản có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị 2 trường thế giới đòi hỏi có nguồn vốn lớn đáp ứng yêu cầu công nghệ chất lượng cao và mở rộng sản xuất. Cây quế là một cây bản địa có nhiều công dụng, trong những năm gần đây cây quế đã được gây trồng rộng rãi ở nhiều địa phương trên cả nước.
Với giá trị kinh tế cao, dễ gây trồng và chu kì kinh doanh không quá dài như một số loài cây gỗ khác, cây quế có tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị, nhất là giá trị xuất khẩu. Sinh sống trên địa bàn xã Nậm Mười chủ yếu là đồng bào người Dao, có nghề trồng quế lâu đời. Cây quế là cây giảm nghèo nên được gieo trồng trên quy mô diện tích lớn, chứng tỏ tính bản địa của cây quế phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương. Là một xã miền núi chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp để có khả năng kinh doanh tốt cũng như tạo ra ưu thế và quy mô kinh doanh phù hợp hay để mua máy móc cho lao động thủ công nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian lao động, mua giống phân bón, thức ăn gia xúc có chất lượng tốt đòi hỏi người nông dân phải đầu tư thêm nhiều vốn.
Nhưng lượng vốn vay bao nhiêu thì đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ, thời gian vay và lãi xuất vay như thế nào thì hộ có thể chấp nhận được lượng vốn vay và thời hạn vay như vậy? Bên cạnh đó việc xác định thời điểm nào người nông dân có nhu cầu vay vốn cao? Làm thế nào để nông dân tiếp cận vốn một cách kịp thời và thuận lợi nhất? Những người nông dân khi có vốn thì họ sản xuất kinh doanh như thế nào? Có đúng mục đích không? Xuất phát từ thực tế trên của địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp tăng cường tiếp cận các khoản vốn vay của các hộ trồng quế trên địa bàn xã Nậm Mười huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu thực trạng tiếp cận vốn vay của các hộ gia đình trồng quế trên địa bàn xã, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường các khoản vốn vay của hộ gia đình để phát triển sản xuất quế trên địa bàn xã Nậm Mười. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương.
- Phân tích tình hình tiếp cận và sử dụng vốn vay từ các nguồn vốn tín dụng của các hộ trồng quế trên địa bàn xã. - Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của các hộ trồng quế trong việc tiếp cận các khoản vốn vay trên địa bàn xã Nậm Mười. - Đề xuất giải pháp tăng cường tiếp cận các nguồn vốn và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng góp phần phát triển cây quế nói chung và phát triển kinh tế nông hộ nói riêng tại xã Nậm Mười, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài được thực hiện là cơ sở giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức lý thuyết áp dụng vào thực tế. Đây là bước đầu giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất và giúp tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này. - Đề tài thực hiện hoàn thành sẽ là tiền đề, là cơ sở và tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình nghiên cứu và học tập của sinh viên các khóa tiếp theo trong ngành phát triển nông thôn. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá tầm quan trọng của vốn vay trong việc phát triển cây quế, phát triển kinh tế nông hộ và phát triển nông thôn.
Đồng thời giúp nắm bắt 4 được những tồn tại, khó khăn, trở ngại trong việc đưa các khoản vốn vay đến tay người nông dân và cách người nông dân sử dụng vốn vay cho hiệu quả. Từ đó có những điều chỉnh trong huy động vốn, tích lũy, cho vay và sử dụng vốn có hiệu quả. Đề tài sau khi hoàn thành cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các cán bộ Chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức địa phương. Những đóng góp mới của đề tài - Thấy được hiệu quả kinh tế vốn vay của nhiều TCTD như NHNN&PTNT, NHCSXH, các tổ chức tín dụng khác đến phát triển kinh tế trước, sau vay vốn.
- Đánh giá được thuận lợi khó khăn của việc vay vốn và sử dụng vốn vay của hộ nghèo từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, mang lại hiệu quả. - Xác định vấn đề còn tồn tại của việc sử dụng vốn vay của các hộ trồng quế tại địa bàn xã. 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số vấn đề về tín dụng 2.
Khái niệm và phân loại tín dụng Tín dụng là mối quan hệ kinh tế của người đi vay và người cho vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật theo những điều kiện mà hai bên thỏa thuận, hết thời hạn thì người đi vay phải trả lại cho người vay số tài khoản đó và kèm theo một số lợi tức. Bản chất của nó được thể hiện trong quá trình hoạt động của tín dụng với quá trình tái sản xuất xã hội, sự ra đời của tín dụng gắn liền với sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hóa. Trên thực tế tín dụng còn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, nhưng xét về tính chất pháp lý chung có thể chia tín dụng thành hai loại sau: - Tín dụng chính thức: Là loại tín dụng được pháp luật thừa nhận, đó là tín dụng của chủ thể ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng cổ phần, hợp tác xã tín dụng, kho bạc nhà nước và các tổ chức tài chính trung gian khác. - Tín dụng không chính thức: Là tín dụng không được pháp luật thừa nhận, nó ra đời cùng với sự phát triển của loài người khi có sự phân chia giai cấp, phân chia xã hội thành kẻ giàu, người nghèo thì quan hệ vay mượn nảy sinh cơ bản là cho vay nặng lãi dưới hình thức cho vay bằng hiện vật và cho vay bằng tiền.
- Hai loại hình thức tín dụng này song song tồn tại trong nền kinh tế, tín dụng không chính thức tồn tại chủ yếu ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng hẻo lánh nơi mà hoạt động tín dụng chính thức còn yếu. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc phát triển kinh tế hộ Tín dụng thực hiện chức năng luân chuyển vốn giữa các chủ thể khác 6 nhau, chính sự luân chuyển mạnh mẽ này góp phần thúc đẩy nhanh sự hình thành thị trường tài chính. Khi sản xuất càng phát triển thì nhu cầu về vốn càng lớn. Tín dụng ngân hàng là chất xúc tác mạnh nhất quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa trong xã hội.
Tín dụng ngân hàng góp phần khai thác và sử dụng triệt để những tiềm năng có sẵn (lao động, đất đai, tiền vốn…) thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển. Từ việc sản xuất thủ công, manh mún do thiếu vốn chính sách tín dụng đã giúp cho người dân mạnh dạn đi vào sản xuất kinh doanh cải tạo và nâng cao trang thiết bị, mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng. Việc đưa kinh tế nông hộ từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường thì vốn và cơ chế quản lí nhà nước là một yếu tố có tính chất quyết định. Tín dụng đã giúp cho người lao động cởi bỏ những khó khăn, mạnh dạn đưa hết tiền vốn, lao động và kinh nghiệm của mình vào đầu tư cho một ngành nghề sản xuất mà họ cho là có lãi.
Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, đảm bảo cho sản xuất nông hộ có điều kiện thực hiện chuyển giao công nghệ mới cho sản xuất, đồng thời đẩy mạnh quá trình giao lưu hàng hóa. Tín dụng ngân hàng đã góp phần phát triển kinh tế nông hộ và góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, có vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh cũng như giúp đỡ hộ nông dân nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường hạch toán kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập, nguồn vốn tín dụng ngân hàng cũng đã góp phần giúp cho các hộ nông dân phải áp dụng quy trình mới, kỉ luật mới để đạt được hiệu quả cao nhất.