CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐẦU TƯ 1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình và các giai đoạn của dự án đầu tư 1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”, [14, 2].2 Các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình Với một dự án đầu tư xây dựng công trình các giai đoạn của dự án thường được chia ra như sau: - Giai đoạn chuẩn bị dự án. - Giai đoạn thực hiện dự án. - Giai đoạn kết thúc dự án.2 Tổng quan về giai đoạn thực hiện đầu tư và công tác quản lý trong giai đoạn thực hiện đầu tư 1.1 Tổng quan về giai đoạn thực hiện đầu tư thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình Đây là giai đoạn giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình đầu tư nhằm vật chất hóa vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Ở giai đoạn này trước hết cần làm tốt công tác chuẩn bị xây dựng, cụ thể công việc đối với từng bên là: - Chủ đầu tư có trách nhiệm: Xin giao đất hoặc thuê đất theo qui định của Nhà nước, xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên. Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, mua sắm thiết bị và công nghệ. Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình. Thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán.
Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp công trình. Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án. - Các tổ chức xây lắp có trách nhiệm: Chuẩn bị các điều kiện xây lắp. San lấp 7 mặt bằng xây dựng, điện, nước, công xưởng kho tàng, bến cảng, đường xá, lán trại và công trình tạm phục vụ thi công, chuẩn bị vật liệu xây dựng,… Chuẩn bị xây dựng những công trình liên quan trực tiếp.
Bước công việc tiếp theo của giai đoạn thực hiện đầu tư là tiến hành thi công xây lắp công trình theo đúng thiết kế, dự toán và tổng tiến độ được duyệt. Trong bước công việc này, các cơ quan, các bên đối tác có liên quan đến việc xây lắp công trình phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, cụ thể là: - Chủ đầu tư có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng. - Các nhà tư vấn có trách nhiệm giám định kỹ thuật và chất lượng công trình theo đúng chức năng và hợp đồng kinh tế đã ký kết. - Các nhà thầu phải thực hiện đúng tiến độ và chất lượng xây dựng công trình như đã ghi trong hợp đồng.
Yêu cầu quan trọng nhất đối với công tác thi công xây lắp là đưa công trình vào khai thác, sử dụng đồng bộ, hoàn chỉnh, đúng thời hạn quy định theo tổng tiến độ, đảm bảo chất lượng và hạ giá thành xây lắp.2 Nội dung quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện đầu tư 1.1 Bản chất của quản lý dự án, [19, 89-90]. Bản chất của của quản lý dự án chính là sự điều khiển một hệ thống trên cơ sở 3 thành phần: con người, phương tiện, hệ thống. Sự kết hợp hài hòa 3 thành phần trên cho ta sự quản lý tối ưu. Trong hệ thống con người được gọi là “kỹ năng mềm” còn phương tiện được gọi là “kỹ năng cứng”.
Quản lý bao gồm hai hoạt động cơ bản đó là hoạch định và kiểm soát. Hai hoạt động này có mối quan hệ tương hỗ nhau và không thể tách rời nhau. Hoạch định Kiểm soát (Planning) (Control) Để quản lý tốt dự án thì phải lập kế hoạch thực hiện dự án tốt, muốn quản lý tốt phải có tổ chức tốt. Tuy nhiên, quản lý dự án xây dựng cần nhiều bộ phận hợp 8 thành.
Đó là các kiến thức chung, các lý thuyết chung về quản lý, các kiến thức về chuyên môn như là: quy hoạch, kiến trúc, kết cấu, công nghệ, xây dựng, tổ chức xây dựng, kinh tế xây dựng và các kiến thức hỗ trợ như là: pháp luật, tổ chức nhân sự, tin học, môi trường,… Với mỗi dự án, các nhà quản trị dự án có cách nhìn riêng, cách đánh giá riêng về các nội dung trọng yếu trong các kết qủa đạt được của dự án. Do đó thay vì cố gắng đi tìm một định nghĩa, người ta đưa ra một “cơ cấu tư duy” về sự thành công. LÝ THUYẾT QUẢN LÝ QUẢN LÝ KIẾN THỨC DỰ ÁN XÂY CHUYÊN DỰNG MÔN KIẾN THỨC HỖ TRỢ Hình 1.1 Các bộ phận hợp thành Quản lý dự án xây dựng 1.2 Nội dung công tác quản lý trong giai đoạn thực hiện đầu tư Trong một dự án, các giai đoạn khác nhau của một vòng đời dự án cũng dẫn đến các giai đoạn quản lý dự án tương ứng. Đối với giai đoạn thực hiện đầu tư thì công tác quản lý dự án bao gồm: a) Quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện (giai đoạn tiền thi công): - Điều hành quản lý chung dự án.
- Tư vấn, tuyển chọn nhà thầu thiết kế và các nhà tư vấn phụ. - Quản lý các hợp đồng tư vấn (soạn thảo hợp đồng, phương thức thanh toán). - Triển khai công tác thiết kế và các thủ tục xin phê duyệt quy hoạch: Thiết kế 9 phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng và phải thể hiện trên bản vẽ theo quy định. Thiết kế phải thể hiện được các khối lượng công tác xây dựng để làm cơ sở xác định chi phí xây dựng công trình.
- Chuẩn bị cho giai đoạn thi công xây dựng. - Xác định dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình: Dự toán xây dựng công trình được lập căn cứ trên cơ sở khối lượng các công việc xác định theo thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ phải thực hiện của công trình và đơn giá xây dựng công trình, định mức chi phí tính theo tỷ lệ % cần thiết để thực hiện khối lượng, nhiệm vụ công việc đó. - Thẩm định dự toán, tổng dự toán: Chủ đầu tư tự tổ chức việc thẩm định thiết kế, dự toán, tổng dự toán công trình nếu có đủ năng lực, hoặc thuê các công ty tư vấn thiết kế xây dựng thẩm định. Chủ đầu tư được phép phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công dự án đầu tư, tổng dự toán đối với các công trình xây dựng phải lập dự toán trước khi đưa ra thi công.
Chủ đầu tư phê duyệt dự toán công trình sau khi đã thẩm tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả phê duyệt dự toán công trình. Dự toán công trình được phê duyệt là cơ sở để xác định giá gói thầu, giá thành xây dựng và là căn cứ để đàm phán, ký kết hợp đồng, thanh toán với nhà thầu trong trường hợp chỉ định thầu. Công trình hoặc hạng mục công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trước khi khởi công xây dựng phải có thiết kế, dự toán được duyệt. - Lập Hồ sơ mời thầu và đánh giá Hồ sơ dự thầu: Tổ chức đấu thầu phải theo một trình tự nhất định để quá trình nhận, đánh giá, bảo quản hồ sơ dự thầu được an toàn, chính xác.
Mỗi loại được đấu thầu theo các trình tự riêng. b) Quản lý dự án ở giai đoạn thi công xây dựng: Bao gồm quản lý khối lượng thi công, quản lý tiến độ thi công, quản lý chất lượng công trình xây dựng, quản lý chi phí thi công xây dựng công trình, quản lý nguồn nhân lực và quản lý về an toàn trong thi công xây dựng công trình. - Quản lý và giám sát chất lượng: Được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng xây dựng. Là quá trình quản lý có hệ 10 thống việc thực hiện dự án xây dựng công trình nhằm đảm bảo đáp ứng yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra.
Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng. - Lập và quản lý tiến độ thi công: Trước khi triển khai thi công xây dựng công trình thì nhà thầu có nghĩa vụ phải lập tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt. - Quản lý chi phí dự án (tổng mức đầu tư, dự toán, tạm ứng, thanh toán vốn): Là quá trình quản lý chi phí, giá thành dự án xây dựng công trình nhằm đảm bảo hoàn thành dự án xây dựng công trình mà chi phí không vượt quá tổng mức đầu tư ban đầu.
Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí. - Quản lý nguồn nhân lực của dự án xây dựng công trình: Là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính sáng tạo của mỗi người trong dự án thi công xây dựng công trình và tận dụng nó một cách hiệu quả nhất. Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban quản lý dự án thi công xây dựng công trình. - Quản lý các hợp đồng (soạn hợp đồng, phương thức thanh toán) 1.3 Chi phí và quản lý chi phí xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư 1.1 Chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình Thuật ngữ “chi phí” có nhiều cách hiểu khác nhau tùy vào từng tình huống và mục đích sử dụng khác nhau.
Theo Homgren et al, 1999: “Chi phí như là một nguồn lực hy sinh hoặc mất đi để đạt được một mục đích cụ thể”. Hầu hết mọi người đều xem chi phí là hao phí nguồn lực tính bằng tiền để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ. Riêng đối với ngành xây dựng thì thuật ngữ “chi phí” được hiểu là Chi phí đầu tư xây dựng công trình là toàn bộ chi phí cần thiết để xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, mở rộng công trình xây dựng.