Chương 1: Cơ sở lý luận về các yếu tố động viên nhân viên và sự cam kết đối với doanh nghiệp: Giới thiệu những định nghĩa về sự cam kết của người lao động với tô chức, trình bày một số các nghiên cứu trước đây về sự cam kết của người lao động với tổ chức đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của người lao động Chương 2: Thực trạng về sự cam kết tại Công ty Cổ phần Logistics Vinalink tại Thành phố Hồ Chí Minh: Trình bày về tình hình tổng quan của công ty Cổ phần Logistics Vinalink. Sau đó phân tích để đưa ra các đánh giá về ưu, nhược điểm cho từng yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết. Chương 3: Giải pháp nâng cao sự cam kết của nhân viên đối với Công ty Cổ phần Logistics Vinalink tại thành phố Hồ Chí Minh: Căn cứ những đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự cam kết của người lao động với công ty Cổ phần Logistics Vinalink, Trình bày mục tiêu và ý nghĩa của giải pháp nâng cao sự cam kết của người lao động. Sau đó tác giả đề ra một số giải pháp cho từng yếu tố.
CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ CÁC YÊU TÔ ĐỘNG VIÊN NHÂN VIÊN VÀ SỰ CAM KÉT ĐÔI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Maslow (1943) cho rằng hành vi con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: - Nhu cau sinh ly Đây là nhu cầu cơ bản và thấp nhất trong các nhu cầu của con người. Nó bao gồm các nhu cầu như: thức ăn , nước uống và quân áo. - Nhu cau an toàn: Đề sinh tồn, hành vi của con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu an toàn.
Nội dung nhu cầu an toàn cơ bản nhất là an toàn sinh mệnh. Những nội dung còn lại là an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn kinh tế, an toàn nghề nghiệp, an toàn ở và đi lại, an toàn nhân sự, an toàn sức khoẻ và an toan tam li. - _ Nhu cầu xã hội (nhu cầu giao tiếp): Nội dung của nó phong phú, tế nhị, kì diệu và phức tạp hơn hai nhu cầu trước. Nó thường tùy theo tính cách, cảnh ngộ, trình độ văn hoá, đặc điểm dân tộc, đặc điểm khu vực, chính trị, tín ngưỡng và các quốc gia khác nhau mà có đủ các loại hình thái, muôn màu muôn vẻ.
Nhu cầu giao tiếp gồm có các vấn đề tâm lí như: được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi thân cận, tán thưởng, ủng hộ, v. - _ Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu được tôn trọng chia làm hai loại: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng. Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng: mong giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, hiểu biết, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện. Về bản chất mà nói đó là sự tìm kiếm tình cảm tự an ủi hoặc tự bảo vệ mình.
Nhu cầu được người khác tôn trọng bao gồm: Khát vọng giảnh được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, được quan tâm, có địa vị, có danh dự, được biết đến, v.Ủy tín là một loại sức mạnh vô hình được người khác thừa nhận. Vinh dự là sự đánh giá khá cao của xã hội đối với mình. Tôn trọng là đư- ợc người khác coi trọng, ngưỡng mộ. - _ Nhu cầu tự khẳng định (nhu cầu về thành tích): Mục đích cuối cùng của con người là tự hoàn thiện chính mình, hay là sự phát triển toàn diện tất cả những khả năng tiềm ẩn trong những lĩnh vực mà mình có khả năng.
Đây là nhu cầu tâm lí ở tầng thứ cao nhất của con người. Nội dung cơ bản nhất của nhu cầu thành tích là tự mình thực hiện. Người ta ai cũng muốn làm một việc gì đó để chứng tỏ giá trị của mình, đó chính là ham muốn về thành tích. Mong muốn, tự hào, thậm chí cả cảm giác mặc cảm đều sản sinh trên cơ sở nhu cầu về thành tích.
Thuyết nhu cầu Maslow có một hàm ý quan trọng đối với các nhà quản trị muốn lãnh đạo nhân viên mình tốt thì cần phải hiểu nhân viên của mình đang ở cấp độ nào trong tháp nhu cầu. Từ đó sẽ giúp cho nhà quản trị đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao sự thỏa mãn công việc của người lao động một cách tốt nhất.12 Thuyết hai nhén to Herzberg (Herzberg va cic cong sw - 1959) Herzberg và các cộng sự (1959) cho rằng có 2 nhóm nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn công việc: nhóm các nhân tố động viên và nhóm nhân tố duy trì. Các nhân tố động viên gồm: thành tích, sự công nhận, công việc có tính thử thách, sự tiến bộ, sự trưởng thành trong công việc, các nhân tố duy trì gồm: chính sách công ty và cách quản trị của công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ giữa các cá nhân, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, sự đảm bảo của công việc. Chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự thỏa mãn cho nhân viên, và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên.
Thuyết công bằng của J. Stacy Adams (1963) Lý thuyết công bằng của Adam (1963) cho rằng con người đánh giá sự công bằng bằng tỷ số đầu vào trên đầu ra. Đầu vào đối với một công việc gồm có: kinh nghiệm, sự nỗ lực và năng lực cá nhân. Đầu ra của công việc gồm có tiền công, sự công nhận, việc đề bạt và các khoản phụ cấp.
Sự bất mãn xuất hiện khi người ta cảm thấy các kết quả nhận được không tương xứng khi so sánh với những gì mà người khác nhận được. Học thuyết công bằng ngụ ý rằng khi các nhân viên hình dung ra sự bắt công, họ có thể có một hoặc một số trong năm khả năng lựa chọn sau đây: -_ Làm méo mó các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân mình hay của những người khác. -_ Cư xử theo một cách nào đó dé làm cho những người khác thay đổi các đầu vào hay đầu ra của họ. -_ Cư xử theo một cách nào đó để làm thay đổi các đầu vào hay đầu ra của chính bản thân họ.
-_ Chọn một tiêu chi đối chiếu khác để so sánh. Sự thỏa mãn của nhân viên chịu ảnh hưởng lớn của những phần thưởng tương đối cũng như phần thưởng tuyệt đối. Khi các nhân viên nhận thức sự bất công, họ sẽ có những hành động để hiệu chỉnh tình hình này. Kết quả có thể năng suất cao hơn hoặc thấp hơn, chất lượng tốt hơn hay giảm đi, mức độ vắng mặt tăng lên, hoặc thôi việc tự nguyện.
Thuyết về sự công bằng đòi hỏi các nhà quản trị quan tâm đến các nhân tố chi phối nhận thức của người lao động về sự công bằng và từ đó tác động tạo cho người lao động có được một nhận thức đúng đắn về sự công bằng. Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Về căn bản, học thuyết kỳ vọng cho rằng mức độ hành động và động lực của một cá nhân phụ thuộc vào: Mức độ mà cá nhân kỳ vọng về kết quả đạt được khi đã nỗ lực thực hiện công việc. Mối liên hệ giữa phần thưởng của tổ chức với kết quả đạt được. Tính hấp dẫn của phần thưởng đó đối với cá nhân.
Lý thuyết này gồm ba biến số hay mối quan hệ sau: 10 Mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả: Khả năng mà một cá nhân nhận thức được rằng bỏ ra một nỗ lực nhất định sẽ đem lại kết quả. Nếu cá nhân bỏ ít nỗ lực thì cá nhân này kỳ vọng đạt được kết quả ở mức khiêm tốn. Ngược lại, nếu cá nhân bỏ ra nhiều nỗ lực thực hiện công việc thì họ kỳ vọng đạt kết quả cao. Mối quan hệ giữa kết quả và phần thưởng: Mức độ cá nhân tin rằng kết quả thực hiện công việc ở một mức độ cụ thể nào đó sẽ được tổ chức đền đáp xứng đáng.
Chẳng hạn khi đạt kết quả tốt (số lượng công việc và chất lượng công việc) thì cá nhân phải biết rõ họ sẽ nhận được gì từ công ty: lương, sự bảo đảm, tình bằng hữu, sự tin cậy, phúc lợi, cơ hội được sử dụng tài năng hay kỹ năng, cơ hội thăng tiến. Tinh hap dẫn của phần thưởng: Giá trị mà cá nhân gán cho phần thưởng của tô chức sẽ dành cho cá nhân nếu đạt được kết quả thực hiện công việc nhất định.15 Thuyết X và Y của Douglas McGregor (1960) ° Thuyết X Thuyết này giả định rằng nhân viên tự nhiên không có động lực và không thích làm việc, và điều này khuyến khích một phong cách quản lý độc đoán. Theo quan điểm này, nhà quản lý phải chủ động can thiệp dé hoàn thành công việc. Kiểu quản lý này giả định rằng nhân viên: -_ Không thích làm việc.
- _ Tránh trách nhiệm và cần được hướng dẫn. -_ Phải được kiểm soát, ép buộc và đe dọa để làm việc. - Cần phải được giám sát ở mọi bước. - Cần được lôi kéo để tạo ra kết quả; nếu không họ không có tham vọng hoặc động lực làm việc.
Các tổ chức loại X có xu hướng “đầu voi đuôi chuột”. Các nhà quản lý và người giám sát phải kiểm soát nhân viên mọi lúc mọi nơi. Và đường như không có bất cứ sự ủy quyền nào. 11 McGregor nhận ra rằng nhân viên kiểu X trên thực tế thường là thiểu số, nhưng trong các môi trường như sản xuất quy mô lớn, thì Thuyết X có thể không tránh khỏi.
Điển hình như Samsung, Apple hay các nhà máy sản xuất khác. ° Thuyết Y Thuyết nay thé hiện một kiểu quản lý có sự tham gia ít. Nó giả định rằng nhân viên rất vui khi làm việc, có động lực và sáng tạo, cũng như thích làm việc với trách nhiệm lớn hơn. Nó giả định rằng nhân viên: -_ Chịu trách nhiệm và được thúc đây để hoàn thành các mục tiêu mà họ được giao pho.
- _ Tìm kiếm và chấp nhận trách nhiệm mà không cần quá nhiều sự điều hướng. - Coi céng việc như là một phần tự nhiên của cuộc sống. Kiểu quản lý này có xu hướng được áp dụng rộng rãi hơn. Trong các tổ chức loại Y, những người ở cấp thấp hơn có liên quan đến việc ra quyết định và trách nhiệm nhiều hơn.