CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm đầu tư và phân loại đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư theo cách hiểu tổng quát nhất là quá trình bỏ vốn, nhằm mục đích thu được hiệu quả trong tương lai. Cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa về đầu tư.
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trên góc độ làm tăng thu nhập trong tương lai, đầu tư được hiểu là: Sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để tăng tiêu dùng trong tương lai, do đó thu nhập sẽ được tăng thêm. Trên góc độ rủi ro của đầu tư, đầu tư được hiểu là: Sự đánh bạc về tương lai, với hy vọng rằng thu nhập hiện tại và tương lai sẽ lớn hơn chi phí hiện nay và mai sau. Theo từ điển quản lý tài chính Ngân hàng của nhóm học giả người Pháp do Pierrce Conso đại diện, thì đầu tư bao gồm ba khái niệm, tuỳ thuộc từng quan điểm: Theo quan điểm kinh tế, đầu tư là làm tăng vốn cố định, tham gia vào hoạt động của các Doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.
Đó là quá trình làm tăng tài sản cố định về sản xuất và kinh doanh. Theo quan điểm tài chính, đầu tư là quá trình làm bất động hoá một số vốn, nhằm thu lợi nhuận trong nhiều chu kỳ nối tiếp sau này. Khái niệm này cho biết, ngoài việc tạo ra các tài sản vật chất tham gia trực tiếp vào hoạt động 7 của Doanh nghiệp, còn bao gồm các khoản chi tiêu không tham gia ngay một cách trực tiếp vào hoạt động của Doanh nghiệp, như: Các chi phí nghiên cứu, đào tạo nhân viên … Theo quan điểm kế toán, khái niệm đầu tư gắn liền với việc phân bổ các khoản vốn đã bỏ ra, vào trong các mục cố định, trong một thời gian nhất định, phục vụ cho công tác quản lý về kết quả đầu tư. Các ý kiến nêu trên về khái niệm đầu tư, tuy có những khía cạnh khác nhau, nhưng đều tập trung vào khía cạnh đầu tư là tạo vốn tư bản thực sự, nhấn mạnh đến hình thái vật chất của đầu tư (trong đó chủ yếu là những tài sản cố định và có những khoản đầu tư vô hình), đã vạch rõ mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện đạt mục tiêu.
Từ những khái niệm trên chúng ta có thể hiểu được: Mục tiêu là các lợi ích mà các nhà đầu tư mong muốn thu được mà phương tiện là vốn của họ xuất ra. Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư. Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội đã được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. Bất kỳ một quá trình tăng trưởng và phát triển nào muốn tiến hành được đều phải có vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là yếu tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh; Nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu tư và đặc biệt có vai trò to lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước. Phân loại đầu tư a) Phân loại theo chủ đầu tư (theo chủ sở hữu vốn). - Chủ đầu tư là Nhà nước: Chủ đầu tư này do Nhà nước giao quyền quản lý, sử dụng vốn Nhà nước để thực hiện quá trình đầu tư xây dựng. 8 - Chủ đầu tư là các thành phần kinh tế khác nhau (Doanh nghiệp, tư nhân, nhà đầu tư nước ngoài …) b) Phân loại theo nguồn vốn.
- Vốn Nhà nước bao gồm: Vốn Ngân sách Nhà nước; Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Vốn đầu tư phát triển của Doanh nghiệp Nhà nước; Vốn đầu tư của Tổng công ty Đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước. - Đầu tư từ các nguồn vốn khác: Vốn tự huy động của chủ đầu tư; Vốn liên doanh; Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. c) Phân loại theo phạm vi không gian. - Đầu tư trong nước: Là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
- Đầu tư nước ngoài: Là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. - Đầu tư ra nước ngoài: Là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành các hoạt động đầu tư. d) Phân theo mức độ quản lý và sử dụng vốn đầu tư. - Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. 9 d) Phân theo thời gian. - Đầu tư ngắn hạn: Nhằm bổ sung vốn lưu động, thời gian đầu tư thường dưới một năm. - Đầu tư trung hạn: Nhằm mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất.
Thời gian từ 01 năm đến 5 năm. - Đầu tư dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm. f) Phân loại theo ngành, vùng kinh tế. Đầu tư cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, môi trường …; Đầu tư cho vùng sâu, vùng xa… g) Phân theo quy mô và tính chất.
- Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. - Dự án đầu tư phân theo nhóm A, B, C. Các loại dự án phân theo nhóm Nhóm A Nhóm B Nhóm C 1. Các dự án đầu tư xây dựng công - Không kể - Không có - Không có trình thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh, mức vốn quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia; Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ, hạ tầng khu công nghiệp.
Các dự án về công nghiệp điện, - Mức vốn - Mức vốn - Mức vốn khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, trên 1.500 từ 75 tỷ dưới 75 tỷ chế tạo máy, xi măng, luyện kim, tỷ đồng đến 1.500 đồng khai thác, chế biến khoáng sản; Các tỷ đồng dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở. Các dự án đầu tư xây dựng công - Mức vốn - Mức vốn - Mức vốn trình thuỷ lợi, giao thông, cấp thoát trên 1.000 từ 50 tỷ dưới 50 tỷ nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, tỷ đồng đến 1.000 đồng 10 kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tỷ đồng tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác. Các dự án đầu tư xây dựng công - Mức vốn - Mức vốn - Mức vốn trình công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ trên 700 tỷ từ 40 tỷ dưới 40 tỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn đồng đến 700 tỷ đồng thiên nhiên, sản xuất nông- lâm đồng nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông- lâm- thuỷ sản. Các dự án đầu tư xây dựng công - Mức vốn - Mức vốn - Mức vốn trình y tế- văn hoá- giáo dục, phát trên 500 tỷ từ 30 tỷ dưới 30 tỷ thanh, truyền hình; Xây dựng dân đồng đến 500 tỷ đồng dụng khác.
đồng h) Phân theo góc độ tái sản xuất tài sản cố định. - Đầu tư xây dựng mới: Dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án độc lập với dự án đang hoạt động. - Đầu tư xây dựng mở rộng: Phát triển dự án đầu tư đang thực hiện nhằm mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường. - Đầu tư xây dựng lại: Sửa chữa, cải tạo nhưng quy mô đầu tư không thay đổi.
i) Theo mức độ đạt được của hiệu quả đầu tư: - Đầu tư tăng trưởng: Đằu tư tăng trưởng làm thay đổi quy mô (thay đổi về lượng). - Đầu tư phát triển: Đầu tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá - dịch vụ, nâng cao mức thu nhập bình quân của mỗi 11 Quốc gia. Ý nghĩa quan trọng nhất của đầu tư phát triển là làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của mỗi Quốc gia. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Khái niệm - Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là quá trình mà nhà đầu tư thực hiện công việc đầu tư kinh doanh hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý Doanh nghiệp. Khái niệm này nhấn mạnh tới động cơ kinh doanh của nhà đầu tư và phân biệt với đầu tư gián tiếp nhờ đặc điểm nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có quyền trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn trong Doanh nghiệp FDI (khái niệm này nhìn nhận dưới góc độ của nhà đầu tư). - Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam "Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư Việt Nam".
Khái niệm này đề cập nhiều đến đối tượng của quá trình đầu tư. Đó không đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà kèm theo nó có thể là sự chuyển giao công nghệ hay có tài sản vô hình khác (khái niệm này nhìn nhận dưới góc độ của nước tiếp nhận đầu tư).