Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ, GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ 1. KHU KINH TẾ 1. Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng, thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Khu kinh tế được chia thành hai khu vực chính: Khu thuế quan và Khu phi thuế quan.
- Về không gian thành lập: Khu kinh tế được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng, có điều kiện tự nhiên, vị trí kinh tế địa lý thuận lợi. - Về quy hoạch tổng thể: Khu phi thuế quan: là khu có ranh giới địa lý xác định, được ngăn cách bằng hàng rào cứng với khu vực xung quanh, không có dân cư sinh sống. Các hoạt động trong Khu phi thuế quan bao gồm: sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác. Quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa Khu phi thuế quan với nước ngoài, giữa các doanh nghiệp trong Khu phi thuế quan với nhau được xem như là quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với nước ngoài.
Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào Khu phi thuế quan hoặc từ Khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài không thuộc diện phải nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khu thuế quan: là khu vực còn lại của Khu kinh tế, ngoài phạm vi Khu phi thuế quan. Trong Khu thuế quan có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí, khu du lịch, khu dân cư và hành chính. Hàng hóa ra vào Khu thuế quan thuộc khu vực kinh tế phải tuân thủ quy định của pháp luật về mặt hàng, thuế xuất nhập khẩu, nhưng được áp dụng những thủ tục Hải quan thuận lợi.
Hàng hóa tự do lưu thông giữa Khu thuế quan và khu nội địa. - Về lĩnh vực đầu tư: Khu kinh tế cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng có mục tiêu trọng tâm phù hợp với từng Khu kinh tế được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau. Các loại hình Khu kinh tế 1. Đặc khu kinh tế: Đặc khu kinh tế là một bộ phận của Quốc gia, được Quốc hội chấp thuận và do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, có không gian kinh tế - xã hội riêng biệt, được vận hành bởi khung pháp lý riêng phù hợp cho phát triển theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Đặc khu kinh tế có những đặc điểm sau: - Quản lý nhà nước đối với hoạt động Đặc khu kinh tế theo cơ chế một cửa và mở, được Quốc hội và Trung ương trao quyền quản lý rộng. - Có khung pháp lý riêng mang tính đặc thù khác với nội địa. - Ngành nghề hoạt động đa dạng. - Có dân cư sinh sống và hình thành các thị trường như: thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… - Không quy định thời gian hoạt động của các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động trong đặc khu kinh tế được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước trung ương đến hoạt động kinh tế. Khu kinh tế ven biển: Là khu kinh tế tổng hợp hay khu kinh tế chuyên ngành gắn với cảng biển, tiềm năng kinh tế lớn, do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định thành lập. Khu kinh tế ven biển có đặc trưng sau: - Có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương với các khu vực khác và hội tụ được nhiều yếu tố phát triển cơ bản. - Môi trường đầu tư, kinh doanh, buôn bán trong Khu kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, đươc hưởng quy chế ưu đãi hơn các vùng khác.
- Giao lưu kinh tế giữa Khu kinh tế với nước ngoài thông thoáng, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Khu kinh tế cửa khẩu: Là Khu kinh tế có không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu quốc tế hay cửa khẩu chính của quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại những hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững những nguồn lực, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Khu kinh tế cửa khẩu có đặc trưng sau: - Cách xa trung tâm kinh tế - chính trị- văn hóa của đất nước. - Dân cư tại Khu kinh tế cửa khẩu với dân cư địa phương lân cận của các nước láng giềng có sự tương đồng nhau về văn hóa, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo… - Có sự khác biệt về trình độ chính trị - xã hội, môi trường và chất lượng cuộc sống.
- Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu. - Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng các bên cùng có lợi. THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU KINH TẾ 1. Vốn đầu tư và phân loại vốn đầu tư 1.
Khái niệm vốn đầu tư: Vốn là yêu tố sản xuất cơ bản không thể thiếu được của quá trình sản xuất 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh doanh, đồng thời vốn cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển của nhiều nước khác nhau, nhất là các nước đang phát triển. Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân cư và huy động từ các nguồn vốn trong và ngoài nước đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong nên kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là yếu tố quan trọng nhất của mọi quá trình đầu tư kinh doanh. Phân loại vốn đầu tư a.
Theo hình thái biểu hiện: Vốn đầu tư được chia làm hai loại: Vốn hữu hình: gồm giá trị của những tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc, các tư liệu sản xuất khác, tiền tệ các loại, vàng bạc, đá quý, các trái phiếu, cổ phiếu,… Vốn vô hình: bao gồm các giá trị của các loại tài sản vô hình như vị trí của đất đai, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền,… b. Theo nguồn hình thành: Nguồn vốn đầu tư phát triển của xã hội được hình thành trên cơ sở động viên các nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật pháp. Nguồn vốn trong nước: nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng, các nguồn vốn khác. Nguồn vốn nước ngoài: đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay, nguồn vốn viện trợ và các nguồn vốn khác.
* Nguồn vốn trong nước. - Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành từ tiết kiệm của ngân sách nhà nước, đó là khoản chênh lệch giữa thu và chi của ngân sách nhà nước. - Nguồn vốn tín dụng nhà nước: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành Trái phiếu Chính phủ, Bộ Tài chính phát hành. + Tín phiếu kho bạc + Trái phiếu kho bạc + Trái phiếu đầu tư - Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau: là nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp cho các doanh nghiệp nhà nước lúc mới hình thành doanh nghiệp; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu; tiền khấu hao cơ bản tài sản cố định, lợi nhuận tích lũy được phép để lại doanh nghiệp.
- Nguồn vốn tín dụng: Các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trung gian khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm… có vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư phát triển. Các tổ chức này có ưu điểm là có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, nếu như đối tượng vay vốn chấp hành đủ những quy chế tín dụng. - Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh: Nguồn vốn đầu tư của khu vực dân doanh được hình thành từ nguồn tiết kiệm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiết kiệm dân cư. * Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Viện trợ chính thức (ODA) Là nguồn vốn do Chính phủ các nước và các tổ chức viện trợ quốc tế không hoàn trả lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không có lãi. Nguồn này thường được tập trung vào ngân sách của Chính phủ để đầu tư phát triển hoặc cho vay. Hình thức viện trợ phát triển chính thức ngoài vốn ngoại tệ, thường được đầu tư dưới dạng máy móc thiết bị, công nghệ, công 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình hoặc chuyên gia. Đây là nguồn vố có quy mô tương đối lớn, thời gian đầu tư dài thường tập trung vào các công trình cơ sở hạ tầng mang tầm chiến lược quốc gia như: đường quốc lộ, cảng biển, đường dây tải điện cao thế, thủy điện, các hồ đập thủy lợi lớn… có ý nghĩa then chốt và chủ đạo đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra động lực phát triển kinh tế của đất nước.
- Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) Là những khoản đầu tư do tổ chức và cá nhân người nước ngoài đưa vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với tổ chức, cá nhân trong nước theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại nước đó. Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng, vì vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tạo điều kiện cho nước sở tại có thể thu hút được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước ngoài, mặt khác FDI gắn trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn với bản thân phái nước ngoài, về phía chủ nhà không làm tăng gánh nợ nước ngoài.