CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VÀ NỘI DUNG CỦA GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH 1. Khái quát về giải pháp tài chính: Giải pháp tài chính được hiểu là tổng thể các giải pháp, các cách thức liên quan đến lĩnh vực tài chính được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Trong đó, việc nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính là một khâu quan trọng để doanh nghiệp đề ra giải pháp tài chính phù hợp. Nội dung của giải pháp tài chính: - Giải pháp tài chính bao gồm các giải pháp liên quan đến việc chi tiêu tiền, tức là liên quan đến việc đầu tư của doanh nghiệp; giúp cho nhà lãnh đạo biết được cách thức để thực hiện đầu tư cho tốt, cũng như có thể lựa chọn trong rất nhiều cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn cơ hội đầu tư nào.
- Giải pháp tài chính bao gồm các giải pháp liên quan đến việc huy động vốn, tìm kiếm nguồn tài trợ cho các dự án đầu tư đã được lựa chọn, giúp cho doanh nghiệp biết được nên dùng những nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu tư đã được hoạch định đó. - Giải pháp tài chính bao gồm các giải pháp liên quan đến việc thực hiện chính sách phân phối của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp biết được nên thực hiện chính sách cổ tức như thế nào.2 CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm cạnh tranh: 123doc 7 Theo quan điểm của giới nghiên cứu kinh tế chính trị, cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chính vì vậy, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Trong đó một khái niệm khá phổ biến là cạnh tranh có thể được hiểu như một quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp bao gồm cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất, với mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích của chủ thể.
Qua khái niệm trên chúng ta có thể thấy rằng, cạnh tranh bao gồm một số nội dung: Thứ nhất, cạnh tranh đó là sự ganh đua, thi tài nhằm giành lấy phần thắng của các chủ thể tham dự cạnh tranh. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh thường là một đối tượng cụ thể như sản phẩm, dự án, khách hàng. Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của mọi cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích của các chủ thể tham gia cạnh tranh. Thứ ba, cạnh tranh luôn diễn ra trong một môi trường cụ thể với những ràng buộc chung mà các đối tượng tham gia đều phải tuân thủ như thị trường, các quy định pháp lý, các tập quán kinh doanh.
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau như đặc tính và chất lượng sản phẩm, giá bán, nghệ thuật bán hàng, dịch vụ bán hàng và các công cụ thanh toán. Tóm lại, cạnh tranh kinh tế là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường đều dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thỏa mãn được các nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Khái niệm cạnh tranh ngày nay là khái niệm người mua được quyền chọn lựa cho dù họ là cá nhân hay doanh nghiệp, nếu được quyền chọn lựa các nhà cung cấp khác nhau thì họ sẽ có nhiều khả năng mua được những sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý. Trong xu thế toàn cầu hóa thì sản phẩm, hàng hóa người tiêu dùng chọn lựa sẽ nhiều hơn và các nhà cung cấp sẽ phải 123doc 8 cạnh tranh với nhau nhiều hơn để bán được hàng, cạnh tranh cả ở trong nước và quốc tế.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh (competitiveness) là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế.
Năng lực cạnh tranh có thể được định nghĩa như là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của một công ty là một hàm số của các nhân tố như: - Các nguồn lực của chính công ty (chẳng hạn vốn con người, vốn vật chất và trình độ công nghệ) - Sức mạnh thị trường của công ty - Thái độ của công ty đối với các đối thủ cạnh tranh và các đại lý kinh tế khác - Năng lực của công ty để thích ứng với những tình huống thay đổi - Năng lực của công ty để tạo ra thị trường mới - Môi trường định chế, được cung cấp một cách rộng rãi bởi chính phủ, bao gồm cơ sở hạ tầng vật chất và chất lượng của các chính sách của chính phủ. Năng lực cạnh tranh có thể bao gồm năng lực cạnh tranh ngắn hạn và năng lực cạnh tranh dài hạn. Năng lực cạnh tranh ngắn hạn được biểu thị bởi: giá cả; chất lượng và chức năng của sản phẩm; thị phần; khả năng sinh lợi; lợi tức trên tài sản và giá cổ phiếu.
Một số sáng tạo giới hạn nhằm cải thiện các sản phẩm hiện hành (chẳng hạn dưới dạng hiệu quả, chi phí và chất lượng) có thể cũng bao hàm ở đây. Trái lại năng lực cạnh tranh dài hạn thể hiện việc một công ty hoạt động tốt như thế nào so với các công ty tương tự khác trong việc phát triển công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và quá trình mới và cuối cùng là thị trường hoàn toàn mới. Điều này 123doc 9 bao hàm lợi thế của các sản phẩm hàng đầu và những lợi ích thu được nhờ việc giới thiệu các nhóm sản phẩm hoàn toàn mới dựa trên các phát minh và sự sáng tạo thu được từ các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) quan trọng. Theo Randall, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với một mức lợi nhuận nhất định.
Có một quan điểm khác lại cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng trên cùng một thị trường mục tiêu. Như vậy, trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên nhiều giác độ khác nhau. Tuy nhiên, khi tiếp cận đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ta thấy được một số nội dung cơ bản sau: - Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu của khách hàng (thị trường) phải trở thành chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ khách quan là yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu vừa là động lực sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chính yếu tạo nên sức mạnh trong việc thu hút khách hàng đó là thực lực của doanh nghiệp. Thực lực này phải xuất phát từ yếu tố nội tại của doanh nghiệp, được thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp. - Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tự thân nó đã hàm ý nói đến việc so sánh với các đối thủ cạnh tranh cùng hoạt động trên một thị trường. Để tạo nên sức mạnh cạnh tranh thực sự, doanh nghiệp phải tạo ra lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh để có thể lôi kéo được khách hàng.
- Các biểu hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp luôn có quan hệ ràng buộc. Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh khi nó đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Tuy nhiên trên thực tế, việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách hàng bởi vì có khi doanh nghiệp có lợi thế điểm này nhưng lại yếu về một số mặt khác. Chính vì vậy, việc tìm ra và đánh giá đúng các điểm mạnh, điểm 123doc 10 yếu của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh là một quá trình tiếp diễn liên tục không ngừng vận động.
Doanh nghiệp phải luôn phấn đấu duy trì và phát triển các yếu tố cạnh tranh nhằm đảm bảo được lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ. Các yếu tố cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bao gồm: 1.1 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về cơ bản được xác lập bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu có được một chiến lược kinh doanh đúng thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được củng cố và nâng cao. Một chiến lược kinh doanh trước hết phải xác định được mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp mong muốn đạt được.
Kế tiếp, phải xác định được việc xây dựng các chiến lược quan trọng chiến lược phát triển thị trường, chiến lược marketing hỗn hợp, chiến lược đảm bảo nguồn nguyên liệu, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực.2 Năng lực tài chính của doanh nghiệp Để cạnh tranh có hiệu quả, vấn đề năng lực tài chính của doanh nghiệp có tính chất rất quan trọng, một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là một doanh nghiệp có quy mô lớn về vốn đầu tư và vốn kinh doanh. Một quy mô vốn lớn là nền tảng đảm bảo cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt độnghướng tới lợi nhuận cao nhất, đầu tư được công nghệ tiên tiến làm cho chi phí trên một đơn vị sản phẩm giảm. Khi doanh nghiệp tham gia thị trường với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về chi phí, do vậy rất khó có thể cạnh tranh với các đối thủ.3 Trình độ công nghệ: Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất đóng vai trò quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng 123doc 11 sản phẩm.