CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nhằm đưa ra cách nhìn tổng quan đến quá trình nghiên cứu, các khía cạnh liên quan đến luận án. Việc nghiên cứu và phân tích rõ các nghiên cứu trong nước và ngoài nước sẽ giúp cho tác giả tìm ra được những ý tưởng mới để triển khai, bổ sung thêm cho tính cấp thiết của đề tài. Tình hình nghiên cứu trong nước Từ năm 2009 đến nay, đã có nhiều bài báo, tạp chí và công trình nghiên cứu trong nước về cấu trúc tài chính, một số bài viết nổi bật như 1.
Các bài báo khoa học (1) Bài viết: “Bàn về tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp” – Tác giả Hoàng Tùng (2012), Tạp chí Ngân hàng số 09, Trang 53 – 56. [30] Bài viết đề cập đến vấn đề tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ. Những áp lực của việc tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp xuất phát từ những áp lực bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Đối với những áp lực bên ngoài, doanh nghiệp tái cấu trúc để thích nghi với môi trường kinh doanh đã có những thay đổi về cơ bản.
Đối với những áp lực bên trong, doanh nghiệp tiến hành tái cấu trúc để phù hợp với quy mô tăng trưởng, sự phát triển của doanh nghiệp. Bài viết cũng đã chỉ ra những dấu hiệu cần đặt ra vấn đề tái cấu trúc theo 3 nhóm chính, đó là những biểu hiện có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động, những biểu hiện không liên quan trực tiếp và những biểu hiện rất khó phát hiện. Trên cơ sở đó, tác giả bài viết đã trình bày hai nội dung quan trọng và liên quan trực tiếp đến tái cấu trúc tài chính là tái cấu trúc nguồn vốn và tái cấu trúc nợ. Những phân tích trong bài viết dựa trên cơ sở lý thuyết cho các doanh nghiệp chung, chưa thực hiện đánh giá cho các ngành nghề kinh doanh khác nhau và kiểm chứng cụ thể.
(2) Bài viết “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh- Sử dụng phương pháp FEM, REM” – Tác giả Th.S Lê Phương Dung, Đặng Thị Hồng Giang (2013), Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 187, trang 57-65. [7] 6 Bài viết trình bày cơ sở lý thuyết về cấu trúc tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính như quy mô kinh doanh, cơ cấu tài sản, hiệu quả kinh doanh, tốc độ tăng trưởng, rủi ro kinh doanh và tính thanh khoản. Bài viết đã sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính từ năm 2008 – 2011 của 20 doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp này. Với cách tiếp cận theo phương pháp: Mô hình các ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM).
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm quy mô doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh, tốc độ tăng trưởng và tính thanh khoản. Như vậy, bài viết chỉ dừng lại phân tích cấu trúc tài chính, các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp chế biến thủy sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa đưa ra được cơ sở lý luận về tái cấu trúc tài chính, giải pháp tái cấu trúc tài chính cho doanh nghiệp. Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán - Số1, Trang 46- 49. [6] Trước các khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước như tình trạng kinh doanh thua lỗ, nợ nần và có dấu hiệu rõ ràng của tình trạng mất khả năng thanh toán, việc thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi tình trạng mất khả năng thanh toán, thiết lập lại cấu trúc vốn vững mạnh.
Bài viết chỉ ra tái cấu trúc tài chính là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp. Việc thực hiện tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp nhà nước cần tiến hành cho từng đối loại hình doanh nghiệp nhà nước như đối với DNNN kinh doanh thua lỗ kéo dài, DNNN tăng trưởng quá nhanh và DNNN cần thay đổi cấu trúc kinh doanh, hoặc mua bán, sáp nhập. Để thực hiện tái cấu trúc tài chính DNNN, tác giả bài viết đề xuất DNNN cần rà soát lại nhu cầu vốn, cắt giảm các khoản vay đắt đỏ; DNNN cần đánh giá lại hoạt động, sắp xếp lại quy trình sản xuất kinh doanh; giải quyết dứt điểm các khoản nợ phải thu tồn đọng trong quá khứ; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; và khai thác nguồn vốn bên ngoài từ nhiều kênh khác nhau. Như vậy, bài viết tập trung phân tích trên góc độ lý thuyết về tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp nhà nước, chưa có sự phân tích định lượng cơ bản, sâu sắc hơn về phương pháp, nội 7 dung, hình thức, chiến lược để tái cấu trúc tài chính cho DNNN, đặc biệt là những tập đoàn kinh tế, ngành nghề kinh doanh cụ thể của DNNN.
[32] Luận án đã có những đóng góp cơ bản sau: Thứ nhất, Luận án đã trình bày và phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận thuộc phạm vi cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị tài chính thấy được tầm quan trọng của tái cấu trúc tài chính, sự kết hợp của các nguồn tài trợ nhằm góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp. Luận án cũng trình bày kinh nghiệp xác lập cấu trúc tài chính và các hình thức tái cấu trúc tài chính ở các doanh nghiệp trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Đức và Nhật. Các nhà kinh doanh tại các nước này khi tìm nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thường dựa vào các định chế tài chính trung gian. Riêng Đức và Nhật, thì vốn vay từ các trung gian tài chính là rất lớn.
Tác giả cũng trình bày kinh nghiệm tái cấu trúc tài chính của DNNN trên thế giới. Thứ hai, luận án đã phân tích thực trạng tái cấu trúc kinh tế Việt Nam, thực trạng cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tài chính ở các doanh nghiệp nước ta trong giai đoạn 1991 – 2000 qua đó có thể thấy quá trình này đã có những chuyển biến tích cực, đồng thời cũng chỉ ra những tồn tại, thiếu sót như cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển DNNN, công nghệ lạc hậu, đầu tư dàn trải dẫn đến vốn và tài sản của Nhà nước bị sử dụng lãng phí, hiệu quả kinh doanh thâp; các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng cấu trúc tài chính hợp lý cũng như chưa chú trọng đến quá trình tái cấu trúc tài chính; tình hình huy động và sử dụng vốn của các doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Luận án cũng đã chỉ ra nguyên nhân của hiện trạng trên là do Việt Nam thiếu cơ sở hạ tầng thị trường hiệu quả và chưa có hệ thống các phương pháp định giá khoa học, cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp chưa cao dẫn đến sự bất hợp lý trong việc xác lập cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Thứ ba, luận án đưa ra giải pháp như sau: (1) Giải pháp mang tính chất định hướng về tái cấu trúc tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập 8 kinh tế quốc tế như cần xây dựng mô hình cấu trúc tài chính hợp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam tương ứng với từng giai đoạn phát triển doanh nghiệp là khởi sự, tăng trưởng và suy thoái; (2) Giải pháp tái cấu trúc các yếu tố tài chính làm gia tăng giá trị cho các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Những điểm chưa đề cập của luận án Một là, tác giả mới chỉ ra các phương hướng thực hiện tái cấu trúc tài chính cho DNNN với các mô hình tương ứng với từng giai đoạn phát triển về mặt định hướng và lý luận. Luận án chưa chỉ ra và phân tích rõ cấu trúc tài chính của DNNN hiện hành là như thế nào, phù hợp hay không phù hợp. Mô hình cấu trúc tài chính cần cho DNNN trong giai đoạn nghiên cứu là như thế nào, con đường nào đạt được cấu trúc tài chính đó. Hai là, luận án chưa sử dụng các phương pháp phân tích định lượng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của DNNN làm căn cứ thực hiện tái cấu trúc tài chính.
Ba là, đặc điểm ngành nghề kinh doanh là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác tổ chức tài chính của doanh nghiệp. Luận án phân tích các DNNN nói chung, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau. Do đó, chưa phân tích cấu trúc tài chính, tái cấu trúc tài chính của từng ngành khác nhau. [29] Luận án đã có những đóng góp cơ bản sau: Thứ nhất, luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cơ cấu của doanh nghiệp như những nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, căn cứ lý thuyết và mô hình thiết lập cơ cấu vốn tối ưu.
Luận án tập trung nghiên cứu mô hình được sử dụng rộng rãi nhất do hai nhà kinh tế học là Franco Modigliani và Merton Miller đề xuất, phân tích tác động của thuế và chi phí vốn đến sự thay đổi của cơ cấu vốn. Tác giả cũng trình bày căn cứ lý thuyết về các mô hình kinh tế lượng ứng dụng trong xây dựng cơ cấu vốn của các doanh nghiệp trên thế giới như mô hình nghiên cứu tác động của thuế đến cơ cấu vốn, mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ cấu tài sản và cơ cấu vốn. Thứ hai, dựa trên bộ số liệu điều tra 375 doanh nghiệp nhà nước của Cục tài chính doanh nghiệp – Bộ tài chính năm 2003 và dự báo năm 2004, 2005. Cơ cấu vốn của các doanh nghiệp nhà nước sẽ được tiến hành phân tích theo dòng thời gian, đồng 9 thời phân tích ảnh hưởng của các ngành theo các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, giao thông, thương mại dịch vụ và xây dựng.