phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu hồ nƣớc trên đồng bằng châu thổ Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự hình thành và phát triển một số hồ nƣớc tại các quận nội thành Hà Nội Chƣơng 3: Đặc điểm hình thành và phát triển một số hồ nƣớc tại các quận nội thành Hà Nội Chƣơng 4: Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý một số hồ nƣớc tại các quận nội thành Hà Nội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HỒ NƢỚC TRÊN ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ 1.1 Khái niệm chung về hồ Khái niệm về hồ Hồ đƣợc định nghĩa là một thủy vực chứa nƣớc chuyển động chậm đƣợc bao quanh bởi đất. Chúng chiếm xấp xỉ 2% bề mặt Trái Đất nhƣng chỉ chiếm khoảng 0.01% lƣợng nƣớc trên Thế giới (Wetzel 2001). Có thể hiểu hồ là một khoảng nƣớc đọng tƣơng đối rộng và sâu trong đất liền, nó thƣờng lớn và sâu hơn ao (pond). Hồ khác biệt với các thủy vực khác bởi đặc trƣng trạng thái nƣớc khá yên tĩnh, chuyển động chậm, ngƣợc lại với chuyển động nhanh và thành dòng nhƣ ở sông, suối… Phân loại hồ Có nhiều cách phân loại hồ khác nhau nhƣ: -Theo diện tích: Nhƣng không có quy chuẩn chung giữa các quốc gia mà tùy thuộc vào vai trò của hồ đó đối với địa phƣơng cũng nhƣ so sánh với các hồ khác trong vùng mà coi đó là hồ lớn hay hồ nhỏ.
Có những hồ rất lớn, diện tích rộng hàng vạn km2 nhƣ hồ Victoria ở châu Phi, hồ Aran ở châu Á nhƣng cũng có những hồ rất nhỏ, diện tích chỉ vài trăm m2 đếm vài km2 nhƣ hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm ở nƣớc ta. -Theo tính chất nước hồ có thể phân ra làm 2 loại: - Hồ nƣớc ngọt chiếm nhiều nhất trong lục địa. Hồ có thể có dòng sông nƣớc ngọt chảy qua hay do mƣa. Ví dụ : Hồ Ba Bể, Biển Hồ; - Hồ nƣớc mặn chiếm rất ít.
Hồ có thể do di tích của biển, đại dƣơng bị cô lập giữa lục địa hay trƣớc kia hồ là hồ nƣớc ngọt nhƣng vì khí hậu khô hạn nên nƣớc hồ cạn dần và tỉ lệ muối khoáng trong hồ tăng. -Theo cấu trúc nhiệt có 3 loại: Hồ trộn nƣớc đơn, trộn nƣớc đôi và trộn nƣớc đa Các hồ có thể phân loại theo vật lý qua cách thức hòa trộn – là một phƣơng thức biểu hiện của cấu trúc nhiệt. Năng lƣợng mặt trời chiếu vào các lớp nƣớc bề mặt của hồ và bị suy giảm khi nó truyền qua các cột nƣớc. Nhiệt do đó đƣợc truyền chủ yếu ở các lớp nƣớc bề mặt.
Nƣớc ấm nằm trên, nƣớc lạnh hơn và có tỉ trọng cao hơn nằm dƣới. Điều này tạo ra sự tách biệt hoặc phân tầng giữa các lớp nƣớc. Bề mặt nƣớc ấm đƣợc xem nhƣ tầng mặt nƣớc hồ (epilimnion) trong khi nƣớc lạnh ở đáy thì đƣợc gọi là tầng nƣớc hồ dƣới sâu (hypolimnion). Nơi có sự biến đổi lớn nhất về nhiệt độ giữa hai lớp gọi là tầng đột biến nhiệt (thermorcline) và lớp nƣớc đó của hồ đƣợc gọi là lớp nƣớc giữa (the metalimnion- lớp nƣớc nhiệt độ tăng vọt của đầm hồ).
Tùy thuộc vào sự khác biệt về nhiệt độ (dẫn đến sự khác biệt về tỷ trọng) giữa tầng mặt và tầng đáy mà 2 phần nƣớc này trong lòng hồ không hòa trộn vào nhau. Trong suốt giai đoạn phân tầng mạnh mẽ 2 bộ phận này của nƣớc không tƣơng tác, không hòa vào nhau và do đó trao đổi vật chất bị hạn chế. Khi sự phân tầng bị phá vỡ, ví dụ nhƣ sự thay đổi theo mùa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm mát lớp nƣớc bề mặt, và các cột nƣớc trờ thành đẳng nhiệt thì các tầng nƣớc gần nhƣ có thể hòa trộn với nhau. Sự hòa trộn này thƣờng là 2 lần trong năm, đƣợc gọi theo thuật ngữ là đảo lộn nƣớc đôi (dimictic).
Các hồ đảo lộn nƣớc đơn (monomictic) chỉ trộn nƣớc một lần trong năm và thƣờng có ở các vùng núi cao hay vĩ độ cao, trong khi các hồ đảo lộn nƣớc đa (polymitic) thƣờng ở vùng Xích đạo, trộn nƣớc nhiều lần trong năm. -Theo tình trạng dinh dưỡng: có 4 loại Tình trạng dinh dƣỡng là một thông số đƣợc sử dụng để phân loại hồ về mặt hóa học. Các thuật ngữ Nghèo dinh dƣỡng (oligotrophic), dinh dƣỡng trung bình (mesotrophic), giàu dinh dƣỡng (eutrophic) và phú dƣỡng (hypereutrophic) biểu hiện các mức độ của điều kiện của các hệ thống từ rất ít cho đến thừa các chất dinh dƣỡng. Trên phạm vi toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào các quá trình và khắc phục hậu quả của quá trình phát triển hiện tƣợng phú dƣỡng (ví dụ Cook và nnk, 1993).
Sự thay đổi nhanh chóng trong điều kiện nhệt đới xảy ra khi mà có lƣợng lớn phosphor đổ vào các hồ trong một thời gian tƣơng đối ngắn (khoảng thập kỷ). Nó đƣợc gọi là quá trình phát triển phú dƣỡng vì các nguồn phosphor và dinh dƣỡng tăng nhanh, đi cũng với các hoạt động của con ngƣời trong lƣu vực, nhƣ nông nghiệp và xả thải. Sự gia tăng các sinh vật sản xuất ở cả ven bờ và vùng khơi, gia tăng tỷ lệ bồi lắng, làm cạn kiệt mức oxy hòa tan và khiến các giống cá chết hàng loạt thƣờng đi kèm với các biến đổi tình trạng nhiệt đới do nhân tác. Các cách tiếp cận để xử lý và quản lý là các vấn đề đã đƣợc trình bày trong nghiên cứu của Cook và nnk, 1993.
Phân loại hồ theo nguồn gốc hình thành Có rất nhiều nguyên nhân hình thành nên hồ, gồm các quá trình nội sinh, ngoại sinh hoặc nhân sinh Nguồn gốc nội sinh: Các khu vực thấp hay các bồn trũng trên bề mặt Trái Đất có thể thu nƣớc và trở thành hồ qua một số hoạt động hay quá trình địa chất. Nguồn gốc tai biến địa chất bao gồm hoạt động kiến tạo và núi lửa. Hồ sâu nhất Thế giới đƣợc hình thành trên một đứt gãy kiến tạo, trong khi hồ rõ nét nhất đƣợc tìm thấy ở phễu của các núi lửa cổ. Nguồn gốc ngoại sinh: -Băng hà: Phần lớn các hồ trên Trái Đất đƣợc tạo ra bởi băng hà (Kalff 2002).
Các hồ tròn trên núi cao, hố nƣớc nóng ở vùng đất thấp và hồ băng tuyết xói mòn có rất nhiều ở các khu vực từng bị tuyết bao phủ. -Hoạt động của dòng chảy: Các hồ bồi tích ven sông, là các thủy vực phát triển trên đồng bằng ngập lũ (floodplains), châu thổ và thung lũng bị chặn, chiếm 10% các hồ trên Thế giới và là loại hồ chiếm ƣu thế ở các vĩ độ thấp (Kalff, 2002). -Phong hóa hóa học cũng tạo nên các bồn trũng thu nƣớc. -Quá trình phong thành và hoạt động bờ biển tạo ra các rào chắn đóng vai trò giữ nƣớc ngọt trong khi động vật và thiên thạch là nguyên nhân tạo nên các khu vực thấp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong nội địa và hình thành nên những loại hồ đặc biệt.
Một số lƣu vực hồ đƣợc tạo ra bởi gió. Nguồn gốc nhân sinh: Những hồ khác hình thành nói chung do sự biến đổi hệ thống tiêu thoát hay bổ sung dòng chảy hay hoạt động xây đập chắn của con ngƣời. Đóng góp của việc nghiên cứu hồ đối với các ngành khoa học Mặc dù khi tính trên thang thời gian địa chất chúng chỉ là các đặc trƣng tạm thời của cảnh quan nhƣng chúng có thể tồn tại trong một thời gian dài và do đó ảnh hƣởng mạnh tới sự phát triển của con ngƣời trong một khu vực. Trầm tích hồ cũng có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin về lịch sử môi trƣờng của khu vực.
Khoa học nghiên cứu các hồ gọi là Hồ học và các đặc trƣng của hồ với một số cách khác nhau, bao gồm nguồn gốc địa chất, cách thức hòa trộn và hiện tình trạng dinh dƣỡng. Mặc dù các cách phân loại này dƣờng nhƣ rất khoa học nhƣng trên thực tế các dấu hiệu bản chất của hồ về mặt địa chất, vật lý và hóa học có mối quan hệ mật thiết và tất cả các yếu tố này đều đóng vai trò điều chỉnh động lực sinh học trong hồ. Hồ đƣợc xem là thủy vực tiếp nhận và lƣu trữ vật liệu từ lƣu vực xung quanh cũng nhƣ từ khí quyển, khi đó chúng là mối quan tâm của các nhà địa mạo vì trầm tích tích tụ có thể phản ánh sự thay đổi của khu vực theo thời gian. Tỷ lệ xói mòn lƣu vực liên quan đến việc thay đổi sử dụng đất, truy tìm nguồn trầm tích, biến đổi khí hậu, các chất ô nhiễm đã từng đƣợc chuyển đến, hồ sơ lũ và mẫu thực vật có thể đƣợc phát hiện bằng cách đánh giá các đặc điểm khác nhau của các lớp trầm tích tích lũy trong hồ.
Trầm tích, đã đƣợc thu thập bằng cách lấy mẫu lõi xuyên qua vật liệu tích lũy, có thể đƣợc thái lát theo chiều ngang để phân biệt đƣợc các trầm tích theo khoảng thời gian cụ thể. Ngành khảo cổ học về hồ - Paleolimnology- ngành khoa học sử dụng của trầm tích hồ để tái tạo các sự kiện trong quá khứ- đòi hỏi phải có một số phƣơng tiện phù hợp với các vật liệu tích lũy và một loạt các phƣơng pháp xác định sự tồn tại (ví dụ nhƣ 210Pb, 14C, 137Cs, phát quang nhiệt - thermoluminescence) nhƣng độ chính xác và tính chính xác của mỗi phƣơng pháp lại bị hạn chế trong khoảng thời gian cụ thể. Trên cơ sở này và thực tế rằng các trầm tích hồ có thể biến đổi theo thời gian và không gian, việc gây dựng nên bộ sƣu tập các lõi mẫu vật và các phƣơng pháp phân tích phù hợp với những câu hỏi đang đƣợc giải quyết là rất quan trọng. Dearing và Foster (1993) đã đƣa ra những thảo luận hữu ích về những vấn đề, các sai sót và những tác động của việc sử dụng các lõi trầm tích trong nghiên cứu địa mạo.
Một văn bản trƣớc đó của Hakanson và Jansson (1983) đã giới thiệu các chủ đề của Trầm Tích hồ và cung cấp thông tin về khía cạnh vật lý, hóa học và sinh học của trầm tích. Từ năm 1970, trọng tâm nghiên cứu hồ về mặt sinh thái không còn xem hồ nhƣ một hệ thống khép kín nữa mà ngƣời ta đã chú trọng nhiều hơn tới việc kết nối các quá trình trong lƣu vực với các điều kiện của hồ (Kalff, 2002). Các hồ có mối liên kết mật TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.