Chương 1 PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HỆ SO TIÊU VA HIỆU CHINH GIẢN BO HE SO TIEU 1. KHÁI QUAT CHUNG VE HE SO TIÊU 1. Khái niệm hệ số tiêu Hệ số tiêu là lượng nước cần phải đưa ra khỏi một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian để đảm bảo yêu cầu về nước trên diện tích đó của. các đối tượng phục vụ.
Trong quy hoạch thủy lợi, hệ số tiêu là một chỉ số quan trọng quyết định quy mô và hiệu quả công trình tiêu, mức độ bảo dam ổn định cho sản xuất nông nghiệp và nhiều ngành kinh tế khác. Trong các hệ thống thủy lợi đều tôn tại nhiều loại đối tượng có yêu cầu. tiêu nước khác nhau. Yêu cầu tiêu nước của từng đối tượng tiêu nước và của.
cả vùng tiêu thể hiện bằng hệ số tiêu và giản đồ hệ số tiêu. Hệ số tiêu là một thông số rắt quan trọng để tính toán thiết kế xây dựng, công trình trong hệ thống thủy lợi nói chung và công trình tiêu nước nói riêng. “Tại một lưu vực tiêu đã xác định, hệ số tiêu có ảnh hưởng quyết định đến quy. mô và hiệu quả của các công trình tiêu ting, mức độ đám bảo yêu cầu cho sản xuất nông nghiệp và khả năng phát triển của các ngành kinh tế khác.
Tinh toán xác định hệ số tiêu thiết kế và hiệu chỉnh giản đồ hệ số tiêu được thực hiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Trong những năm gin đây do biến động mạnh của các yếu tổ tự nhiên va tốc độ phát triển nhanh của nền. kinh tế nên một số quy định trong c tiêu chuẩn nói trên không còn phủ hợp lâm ảnh hưởng đến kết quả tính toán xác định hệ sé tiêu thiết kế 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số tiêu Có rất nhiề x inh hưởng đến hệ số tiêu nhưng có thé khái quát lại thành hai nhóm sau: Nhóm thứ nhất là nhóm yế khách quan: Đây là những, yéu tố tự nhiên như đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn, sông ngòi, thổ nhưỡng.
trong một chừng mực nảo đó nó tồn tại ngoài ý muốn chủ quan. của con người. Nhóm thứ hai là nhóm yếu tổ chủ quan: Đây là những yếu tổ phụ thuộc vio mục tiêu, ý muốn của con người, bằng hoạt động của mình con người có. thể điều chỉnh, thay đổi được như loại cây trồng, thời vy, biện pháp, kỹ thuật canh tác, cách thức tiến hành tiêu nước, 1.1, Nhóm yếu tô khách quan 1) Vị trí địa lý ‘Theo quy luật tự nhiên, mỗi khu vực nghiên cứu ở những vị trí khác.
nhau về top độ địa lý, khác nhau về ving địa lý (rung du, miễn núi, đồng bằng, ven biển.) có các đặc điểm vẻ khí hậu nói chung và đặc điểm vẻ mưa. ‘gay úng nói riêng là khác nhau. Các đặc điểm về địa hình (mức độ lỗi lõm, cao thấp, mức độ chia cắt, độ dốc hay độ nghiêng của địa hinh.), đặc điểm về lớp phủ bề mặt, về chế độ dòng chảy và chế độ mực nước của các sông. suối và nơi nhận nước tiêu của các khu vực nghiên cứu khác nhau về vị trí địa lý cũng rất khác nhau.
Sự khác nhau này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tính toán chế độ tiêu và hệ số tiêu nước mat, Do vậy vị trí địa lý của vùng nghiên cứu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hệ 6 tiêu và chế độ tiều nước. 2) Đặc diém mua gay ting Moi trận mưa nếu không phù hợp với yêu cầu của sản xuất, đời sống va phát triển kinh tế - xã hội cin phải tiêu thoát, đều gọi chung là mưa gây ng. Đặc điểm của mưa gây ding được thé hiện ở độ lớn vẻ tổng lượng mưa, số ngày mưa, dạng phân bố lượng mưa theo thời gian của một trận mưa và thời điểm xảy ra mưa. Các đặc điểm nói trên của mưa gây ding là yếu tổ rất quan trọng ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chế độ tiêu và hệ số tiêu nước mặt ruộng.
Mỗi khu vực nghiên cứu có vị t địa lý, điều kiện tự nhiên khác nhau thì đặc điểm mưa gây ting cũng rit khác nhau. Do tính chat rộng lớn của vùng đồng bằng cũng như vị tri địa lý của các khu vực nghiên cứu khác nhau như đã mô tả ở các phân trên nên đặc điểm của các yếu tố khi tượng nói chung và mưa gây dng nói riêng trên các hệ thống thủy lợi nhìn chung rất khác nhau. 3) Đặc điềm thuỷ triều Biện pháp tiêu nước cho các hệ thống thủy lợi vùng ven biển chủ yếu là tiêu tự chảy bằng cách lợi dụng thời điểm mực nước (huỷ triều tai nơi nhận nước tiêu xuống thấp hơn mực nước ở trong đồng dé tiêu. Vi vậy đặc điểm.
của thủy triều có ảnh hưởng rat quan trọng đến biện pháp tiêu, chế độ tiêu và hệ số tiêu của khu vực. Thời gian mực nước triéu tại nơi nhận nước tiêu thấp hơn mực nước trong đồng càng dai và chân triều càng thấp thi việc tiêu nước. tự chảy cảng thuận lợi và do vậy hệ số tiêu nước cảng nhỏ 4) Chế độ mực nước tại nơi nhận nước tiêu Mực nước tại nơi nhận nước tiêu (sông, hỗ, bién.) có ảnh hưởng quyết định đến: a) biện pháp tiêu của vùng (tiêu tự chảy hoặc tiêu bằng động lực); Ð) phạm vi và giới hạn của ving tiêu tự chảy; c) hệ số tiêu và quy mô của công trình tiêu tự chảy. Khi mực nước tại nơi nhận nước tiêu luôn thấp hơn mực nước cần giữ lại trong đồng thì biện pháp tiêu tự chảy được áp dụng còn.
ngược lại phải áp dụng biện pháp tiêu bằng động lực. Đối với vùng tiêu bằng động lực, mực nước của nơi nhận nước tiêu ảnh. hưởng nhiều đến lưu lượng và hiệu suất bơm của các trạm bơm tiêu. Điều đó có nghĩa là ảnh hưởng đến hệ số tiêu nước thực t mà công trình tiêu có thể đáp ứng được.
Đã xây ra nhiều trường hợp khi nhu cầu tiêu nước đang đòi hỏi rất cấp bách thì có rit nhiều trạm bơm phải ngừng hoạt động khi mực nước sông tại nơi nhận nước tiêu dat mức báo động cấp I 5) Đặc điểm yếu tổ địa hình Dao động về cao độ mặt đất nói chung và mặt ruộng nói riêng ở vùng. đồng bằng tuy nhỏ nhưng lại có ảnh hưởng rit lớn đến chế độ canh tác và biện pháp tiêu nước. Trong phạm vi một địa phương hay một khu vực nhỏ, chênh lệch cao độ mặt dat chỉ một vài mét, thậm chí vài chục cm cũng lam thay đổi chế độ sản xi cũng như giải pháp công trình tiêu thoát nước. Do đặc điểm hình thành và khai thác của vùng đồng bằng Bắc Bộ mà các khu vực gần để, ven biển và ven các sông lớn thưởng có địa hình cao hơn khu vực khác nằm ở sâu trong nội đồng đã tạo nên các kiểu địa hình dạng lòng chảo và lòng máng trong các hệ thống thủy lợi.
Đây chính là yếu tố bat lợi của vùng đông bằng, làm ảnh hưởng lớn đến quá trình tiêu nước và biện pháp tiêu thoát nước. Địa hình không bằng phẳng sẽ ảnh hưởng đến thời gian tập trung dong chảy, làm tăng khả năng ngắm của nước mưa xuống long đất, lâm giảm hệ số dòng chảy và làm tăng khả năng điều tiết nước của khu vực tiêu. Những khu vực. có nhiễu ao hỗ hoặc dit tring có khả năng trừ nước đều có tác dụng điều tiết nước mưa và giảm nhẹ hệ số tiêu nên hệ số tiêu khi tính toán thường nhỏ.
Kết quả nghiên cứu và tính toán về tiêu đã cho thấy địa hình là yếu tổ rất quan trọng ảnh hưởng đến biện pháp tiêu nước, hệ số tiêu và quá. trình tiêu nước của các hệ thống thủy lợi. 6) Đặc điểm yếu tổ thé nhưỡng và chế độ nước ngầm ting nông. Nước mưa rơi xuống một phần ngắm xuống đất để bổ sung nước ngầm, phần còn lại tạo thành dòng chảy mặt.
Khi lượng dòng chảy mặt hình thành do mưa quá lớn không phủ hợp với yêu cầu của sản xuất và đời sống bắt bude phải có biện pháp tiêu bớt lượng nước thửa. Mat đất có tính thắm cảng lớn thi nước mưa ngắm xuống đất cảng nhiễu, hệ số đông chảy mặt cảng nhỏ và lượng nước thừa cần phải tiêu cảng ít. Hệ số tiêu cho vùng tiêu có nhiều loại đất này thường nhỏ hơn so với vùng tiêu có nhiều loại đất ít thắm nước. Độ sâu của nước ngầm ting nông (ting nước ngầm cung cấp nước cho cây trồng).
cũng có ảnh hưởng khá lớn đến tốc độ ngắm và lượng nước ngắm xuống đất và do vậy cũng ảnh hưởng đền chế độ tiêu nước mặt. NI ám yếu tổ chủ quan 1) Phát tiễn nhanh ching về kink tế Sự phát triển mạnh của nền sản xuất nông nghiệp nước ta trong những năm qua đã làm thay đổi quan trọng về chế độ tiêu và hệ số tiêu. Trước đây phần lớn diện tích đất nông nghiệp của nước ta được trồng các loại lúa cao có thời gian sinh trưởng đài, khả năng chịu ngập lớn. Vì trình thủy lợi thiết kế trong thời kỳ trước những năm 1960 chỉ với hệ số tiêu từ 1,62 V/s.ha là đã thỏa man nhu cầu tiêu.
Hiện nay nén san xuất ông nghiệp của nước ta đã có những bước tiễn vượt bậc cả về lượng và chất với trình độ sản xuất và thâm canh rất cao đặc biệt là thay đổi cơ bản về cơ cấu mùa vụ và cây trồng. Các giống lúa thấp cây, thời gian sinh trưởng ngắn, cho năng suất cao nhưng khả năng chịu ngập kém được gieo cấy trên phần lớn diện tích trồng lúa nước. Các loại cây có giá trị cao về kinh tế được. đưa vào sản xuất ngày một nhiều đang thay thé dẫn những loại cây nông nghiệp truyền thống ít có giá trị kinh tế.
Những cây trồng cạn thuộc loại này đều có yêu cầu về chế độ cấp nước và tiêu thoát nước rt cao. Vì vậy các công trình tiêu nước cho nông nghiệp hiện nay hầu hết được thiết kế với hệ số tiêu trên 6,0 Lís.ha, nhiều trường hợp trên 7,0 l/s.ha hoặc cao hon Qué trình đô thị hoá, nhu cầu về sử dụng đất nông nghiệp cho đô thi, dan cư tăng nhanh tại các vùng nông thôn đã làm cho diện tích ao hồ và vùng, tring có khả năng điều tiết nước mưa ngày một thu hẹp, trong khi đó. én tích đất thd cư, đường sa và diện tích phi canh tác khác ngày một nhiễu. Hầu hết các đường ling, ngõ xóm đều được bê tông hoá hoặc lát gạch.
Hệ quả của quá trình nảy Lim tăng lượng dòng chảy mặt, làm tăng lượng nước cẩn tiêu, tăng và nhu cầu tiêu nước.