CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG 1. Khái niệm vốn lưu động Vốn lưu động là lĩnh vực quan trọng nhất trong quản lý tài chính bởi vì nó bao gồm các thành phần khác nhau phải được quản lý cùng nhau, tức là các khoản phải thu, phải trả, hàng tồn kho và tiền mặt (Mutaju I. Vốn lưu động thể hiện sức khoẻ tài chính của một công ty và có liên quan đến khả năng sinh lợi và tính thanh khoản (Sagner, 2014).
Vốn lưu động được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn lưu động là giá trị của toàn bộ tài sản, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng – tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt (Nguyễn Thị Uyên Uyên và cộng sự, 2014). Vốn lưu động thường được đề cập đến qua hai khái niệm: tổng vốn lưu động và vốn lưu động thuần.
Vốn lưu động là tổng tất cả tài sản lưu động, trong khi vốn lưu động thuần là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Các thành phần chính của vốn lưu động là tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Đây được xem là một khái niệm truyền thống về vốn lưu động. Dựa trên giả định này, tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là những khái niệm ngắn hạn, do đó vốn lưu động cũng được xem là một khái niệm ngắn hạn (Preve và Sarria-Allende, 2010).
Vậy, vốn lưu động được mô tả là vốn có sẵn để đáp ứng các hoạt động hàng ngày, các nhà quản lý phải tìm ra cách thức hiệu quả đảm bảo cho các hoạt động hằng ngày đạt được hiệu quả tối ưu. Các thành phần vốn lưu động 1. Tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn Khoản mục này bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gởi ngân hàng và các khoản đầu tư ngắn hạn kỳ hạn đến một năm. Khoản phải thu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Khoản mục này bao gồm tất cả các khoản tín dụng bán hàng mà công ty sẽ thu được từ khách hàng trong tương lai.
Thời gian chuyển đổi từ khoản phải thu thành tiền tùy thuộc vào thời hạn tín dụng của doanh nghiệp đối với từng khách hàng. Hàng tồn kho Hàng tồn kho gồm: nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa… Hàng tồn kho là khoản mục quan trọng để duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảo phục vụ cho nhu cầu của khách hàng. Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là các khoản nợ dưới một năm. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả nhà cung cấp; vay ngắn hạn ngân hàng (hay các tổ chức tín dụng); lương phải trả… Trong bài viết này chủ yếu xem xét và đánh giá khoản nợ phải trả nhà cung cấp.
Các tài khoản lưu động khác Chi phí trả trước và chi phí phải trả là những tài khoản thường xuyên xuất hiện trên bảng cân đối kế toán. Chi phí trả trước là những tài sản được trả trước khi chi phí phát sinh. Chi phí phải trả là những chi phí đã phát sinh thực tế tính đến ngày lập bảng cân đối kế toán nhưng chưa được thanh toán. Phân loại vốn lưu động 1.
Vốn lưu động thường xuyên Là nguồn vốn có nhu cầu thường xuyên trong ngắn hạn. Đây là nhu cầu vốn tối thiểu cho sản xuất – kinh doanh. Vốn lưu động thay đổi Theo tính chất mùa vụ, vào một số thời điểm trong năm tài chính doanh nghiệp sẽ có nhu cầu vốn tăng thêm. Chu kỳ luân chuyển vốn lưu động Mối quan hệ giữa các thành phần vốn lưu động được thể hiện trong hình 1.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Chu kỳ hoạt động và chuyển đổi tiền mặt (Nguồn: David Mathuva (2010)) Chu kỳ luân chuyển tiền tệ là khoảng thời gian tính từ lúc thanh toán tiền để mua nguyên vật liệu và thu các khoản phải thu liên quan đến việc bán thành phẩm (Moss và Stine, 1993). Chu kỳ này dài hơn có nghĩa là đầu tư nhiều hơn vào vốn lưu động. Giảm chu kỳ này đến mức hợp lý tối thiểu, nói chung, sẽ giúp tăng khả năng sinh lợi (Karaduman và cộng sự, 2010; Jose và cộng sự, 1996). Chu kỳ luân chuyển tiền tệ được tính theo phương trình (1.
Chu kỳ luân chuyển tiền tệ = Thời gian tồn kho + Thời gian thu tiền bình quân – Thời gian thanh toán bình quân (1.1) Thời gian tồn kho là thời gian trung bình nguyên vật liệu, hàng hóa, bán thành phẩm và thành phẩm được lưu kho. Thời gian thu tiền bình quân (kỳ thu tiền bình quân) là thời gian trung bình cần thiết để các khoản phải thu của doanh nghiệp chuyển thành tiền. Thời gian thanh toán các khoản phải trả (kỳ trả tiền bình quân) là khoản thời gian trung bình tính từ khi mua nguyên liệu, thuê lao động cho đến khi thanh toán các hóa đơn mua hàng và trả lương cho người lao động. Quản trị vốn lưu động 1.
Khái niệm quản trị vốn lưu động Quá trình quản trị vốn lưu động liên quan đến tất cả các quyết định ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả của vốn lưu động (Kaur, 2010); bao gồm các quyết định về các khía cạnh khác nhau như đầu tư tiền mặt, duy trì mức tồn kho nhất định và quản lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tài khoản phải thu; phải trả. Giá trị vốn lưu động thường cao tương ứng với tổng số tài sản được sử dụng, điều quan trọng là phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả (Padachi, 2006). Do đó, ở nhiều doanh nghiệp, việc quản trị vốn lưu động là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu và các nhà quản trị có thể tăng giá trị của một công ty bằng cách giữ mức vốn lưu động tối ưu. Quản trị hiệu quả vốn lưu động được định nghĩa là việc vốn lưu động được sử dụng đầy đủ và hiệu quả để ổn định công ty và đạt được mục tiêu lợi nhuận (Ramachandran và Jankirman, 2009).
Đây là một chiến lược quản trị tập trung vào việc duy trì mức độ hiệu quả của tài sản lưu động và nợ ngắn hạn để đảm bảo rằng một công ty có đủ dòng tiền để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của công ty. Các nhà quản trị tốn nhiều thời gian vào các vấn đề hàng ngày liên quan đến các quyết định về vốn lưu động (Raheman và Nasr, 2007). Hầu hết thời gian và nỗ lực của các nhà quản lý tài chính được phân bổ trong việc đưa mức tài sản và nợ về mức tối ưu (Lamberson, 1995). Một lý do cho điều này là tài sản lưu động là các khoản đầu tư ngắn hạn liên tục được chuyển thành các loại tài sản khác (Rao, 1989).
Đối với nợ ngắn hạn, công ty chịu trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ này một cách kịp thời. Cùng với đó, các quyết định về mức độ các thành phần vốn lưu động khác nhau trở nên thường xuyên, lặp đi lặp lại và tốn thời gian (Appuhami, 2008). Quản trị vốn lưu động hiệu quả là việc lập kế hoạch và kiểm soát tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn theo cách làm giảm nguy cơ của việc không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn và tránh đầu tư quá nhiều vào các tài sản này (Eljelly, 2004). Quản trị vốn lưu động với mục tiêu chính là đảm bảo đủ dòng tiền để các công ty duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn.
Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn lưu động phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Uyên Uyên và cộng sự, 2014). Sự thiếu hụt vốn lưu động có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp nhưng đầu tư quá nhiều vào vốn lưu động thì lại làm giảm rủi ro thanh khoản, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, Van Horne và Wachowicz (2004) cũng chỉ ra TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 rằng mức độ tài sản vãng lai quá mức có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi của một công ty, trong khi tài sản ngắn hạn thấp có thể dẫn đến giảm thanh khoản và tồn kho, dẫn đến những khó khăn trong việc duy trì hoạt động một cách trơn tru. Thế nên, bằng cách tối ưu hóa các mức vốn lưu động, các công ty có thể giảm thiểu rủi ro, chuẩn bị cho sự không chắc chắn, tạo ra một khoản dự trữ tiền mặt sẵn sàng hỗ trợ trong những thời điểm khó khăn và nâng cao hiệu suất tổng thể. Tầm quan trọng của quản trị vốn lưu động Quản trị vốn lưu động hiệu quả được công nhận là một khía cạnh quan trọng trong thực tiễn quản trị tài chính trong tất cả các hình thức tổ chức.
Để thừa nhận tầm quan trọng này, tạp chí CFO đã xuất bản một nghiên cứu hàng năm về hoạt động quản lý vốn lưu động của công ty ở nhiều quốc gia. Tài liệu chỉ ra rằng nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản của doanh nghiệp (Kim, Mauer và Sherman 1998; Opler, Pinkowitz, Stulz, và Williamson 1999), lợi nhuận (ví dụ như Shin và Soenen 1998; Deloof 2003; Lazaridis và Tryfonidis 2006) khả năng thanh toán (ví dụ Berryman 1983; Peel và Wilson, 1994). Quản trị vốn lưu động có vai trò quan trong đối với lợi nhuận, rủi ro cũng như giá trị của công ty. Shin và Soenen (1998) cũng nhận định cách quản trị vốn lưu động có thể có ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản và khả năng sinh lời của công ty.
Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ công ty nào là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, việc duy trì tính thanh khoản cũng là một mục tiêu quan trọng (Shin và Soenen, 1998; Raheman và Nasr, 2007), chiến lược của công ty phải là sự cân bằng giữa hai mục tiêu trên, bởi vì tầm quan trọng của lợi nhuận và tính thanh khoản là như nhau. Nếu chúng ta bỏ qua mối quan tâm lợi nhuận, chúng ta không thể tồn tại trong một thời gian dài. Ngược lại, nếu chúng ta không quan tâm đến tính thanh khoản, chúng ta có thể phải đối mặt với vấn đề mất khả năng thanh toán (Dong và Su, 2010).