CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa thực tiễn của hoạt động quản trị NNL 1. Khái niệm quản trị NNL Một trong những nhận thức rõ ràng về lý luận cũng như từ thực tế rằng NNL là tài sản quý báu nhất, quan trọng nhất trong quá trình phát triển của các DN. Nhưng khi nói NNL là tài sản quý báu nhất, quan trọng nhất thì cần phải hiểu đó là những con người có tri thức, sáng tạo, đầy nhiệt huyết, tận tâm, và có trách nhiệm cho việc đạt tới tầm nhìn, sứ mạng của DN chứ không phải con người chung chung.
Chất lượng NNL sẽ quyết định sự thành bại trong cạnh tranh. Điều này càng trở nên bức bách trong bối cảnh Việt nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế. “NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL khác với các nguồn lực khác của DN do chính bản chất của con người.
Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tố chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ.Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các CBQL, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó, quản trị NNL khó khăn và phức tạo hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình SXKD”(Trần Kim Dung, 2011, trang 1-2). Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa thể hiện nhiều cách hiểu về quản trị NNL. Các định nghĩa này đi từ mô tả quản trị NNL như một lĩnh vực quản lý có tác động "ngược" trong đó việc quản lý NNL được xem là công cụ để thực hiện chiến lược tới việc xem nó như một nhiệm vụ "tiên phong", trong đó các hoạt động nhân sự có thể giúp DN hình thành chiến lược kinh doanh.
Như vậy, trong một nền kinh tế chuyển đổi như của Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức độ thấp, kinh tế chưa ổn định và Nhà nước chủ trương quá trình phát triển phải thực hiện bằng con người và vì con người, thì “Quản trị NNL là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” (Trần Kim Dung, 2011, trang 3-4). Khái niệm và thực tế quản trị NNL sẽ không giống nhau ở các quốc gia khác nhau. Nghiên cứu quản trị NNL giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách tuyển dụng, bố trí, sử dụng, khuyến khích người khác nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.
Vai trò của quản trị NNL Sự tồn tại và phát triển của một DN phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: vốn, cơ sở vật chất, tiến bộ khoa học kỹ thuật, NLĐ, các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Những yếu tố như: máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị NNL có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của DN. Vai trò quan trọng của quản trị NNL được thể hiện trong việc nghiên cứu các vấn đề về con người trong các tổ chức ở tầm vi mô, bao gồm hai vấn đề cơ bản sau: Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên các DN ngày càng trang bị các công nghệ hiện đại hơn, đa dạng hơn, đòi hỏi trình độ năng lực của nhân viên cần phải được nâng cao hơn nữa.
Vì vậy, các DN cần phải chú trọng đến việc đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề, kỹ năng chuyên môn. Đồng thời, trong công việc phải điều động bố trí nhân sự phù hợp, đúng người đúng việc, sử dụng có hiệu quả NNL nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. Các DN cần cải cách quản lý của mình theo hướng tổ chức gọn nhẹ, có các giải pháp động viên khuyến khích nhân viên làm việc, bảo đảm nhân viên trung thành với DN, có năng lực cốt lõi để bảo đảm lợi ích cạnh tranh của DN. Muốn vậy, nhà quản trị phải giúp nhân viên mình đạt được mục tiêu của họ, tạo điều kiện để nhân viên có cơ hội phát huy hết khả năng, yên tâm gắn bó với DN.
Trong phạm vi cơ quan tổ chức, mục tiêu này được đo lường bằng sự thỏa mãn với công việc, thể hiện ở sự gắn bó với tổ chức và tích cực với công việc hay không. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ý nghĩa thực tiễn của quản trị NNL Trong tất cả các nhiệm vụ của quản trị, quản trị con người là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng nhất vì tất cả các vẩn đề khác đều phụ thuộc vào mức độ thành công của quản trị con người (Likert, 1967). Các công ty ngày nay hơn nhau hay không chính là do phẩm chất, trình độ và sự gắn bó của nhân viên đối với công ty - nghĩa là các nhà quản trị phải nhận thức và đề ra chiến lược quản trị nguồn tài nguyên nhân sự của mình một cách có hiệu quả (Jim Keyser, 1987).
Trước kia, sức mạnh của NNL chỉ dừng lại ở sức khỏe, cơ bắp của nhân viên. Nhưng ngày nay sức mạnh của NNL không chỉ dừng lại ở đó, mà chúng ta có thể thấy rằng vấn đề mấu chốt và quan trọng chính là tri thức, nguồn sáng tạo có giá trị của họ. Các DN muốn tồn tại và phát triển bền vững thì công tác quản trị NNL là một trong những yếu tố hàng đầu mà DN cần phải hết sức chú trọng. Trải qua nhiều thập kỷ, khi mà cả khoa học công nghệ lẫn trình độ năng lực của nhân viên ngày càng được nâng cao, công việc ngày càng đa dạng, phức tạp, mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn thì tầm quan trọng của quản trị NNL ngày càng mang ý nghĩa quan trọng hơn đối với mọi tổ chức, mọi DN.
Nội dung và các chức năng cơ bản của quản trị NNL Nội dung của quản trị NNL bao gồm các hoạt động thực hiện các chức năng quản trị NNL. Để các chức năng này hoạt động một cách hiệu quả, thì nó phải dựa trên các hoạt động xuất phát từ chiến lược kinh doanh của DN. Các hoạt động liên quan đến quản trị NNL rất đa dạng, phong phú, khác biệt. Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của quản trị NNL theo 3 nhóm chức năng chủ yếu sau: 1.
Nhóm chức năng thu hút NNL Nhóm chức năng này bao gồm các hoạt động được thực hiện nhằm xác định chiến lược và kế hoạch phát triển NNL của DN; đánh giá khả năng đội ngũ nhân sự hiện tại của DN; các yêu cầu công việc cụ thể đặt ra cần thu hút NNL trong hiện tại và tương lai; xác định các loại nhân sự mới cần thu hút thêm và lĩnh vực chuyên môn mà số nhân sự cần tuyển mới này phải đáp ứng cho nhu cầu của DN. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Hoạch định NNL Hoạch định NNL là quá trình tiên đoán, thực chất là quá trình dự báo những thay đổi hay biến thiên, cũng như phòng ngừa rủi ro trong tương lai; là quá trình dự báo nhu cầu về NNL của một DN, đảm bảo cho DN luôn có đủ lực lượng lao động với những kỹ năng cần thiết vào thời điểm thích hợp nhằm đạt được mục tiêu của DN. Hoạch định NNL được tiến thành theo qui trình 5 bước như sau: Bước 1: Phân tích môi trường.
Nhằm xác định mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh cho DN. Bước 2: Phân tích thực trạng NNL. Nhằm đưa ra các nhận định, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của NNL hiện có trong DN. Bước 3: Dự báo khối lượng công việc.
Xác định nhân lực của DN thừa hay thiếu, từ đó đưa ra các giải pháp tăng hoặc giảm nhân lực trên cơ sở so sánh dự báo nhu cầu nhân lực trong tương lai với thực trạng NNL hiện có trong DN. Bước 4: Dự báo nhu cầu NNL. Trên cơ sở xem xét các kế hoạch hoạt động và phạm vi SXKD, xác định nhu cầu nhân lực như số lượng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất. Bước 5: Phân tích quan hệ cung cầu NNL.
Nhằm xem xét và đề ra các chính sách, kế hoạch, chương trình hành động giúp DN thích ứng với nhu cầu mới và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL. Hiệu quả của quá trình hoạch định NNL phụ thuộc vào mức độ phù hợp của chiến lược NNL với các chiến lược tổng thể khác của DN, với đặc trưng, năng lực của DN. Vì vậy, khi thực hiện hoạch định NNL phải quan tâm tới các chiến lược khác như chiến lược phát triển thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm mới. đặc biệt là kế hoạch kinh doanh của DN.
Phân tích công việc “Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện tốt công việc” (Trần Kim Dung, 2011, trang 71). Phân tích công việc còn là thu thập các thông tin về công việc một cách có hệ thống. Phân tích công việc được tiến hành nhằm mục đích xác định được các nhiệm vụ của một công việc cụ thể và các kỹ năng, năng lực và trách nhiệm cụ thể của nhân sự mà công việc đó đòi hỏi để đảm bảo thành công. Vì vậy, có thể nói phân tích công việc là nền tảng cho một số hoạt động NNL khác để quản trị NNL có hiệu quả (Bùi Văn Danh và cộng sự, 2011).
Mỗi DN có những nội dung, trình tự thực hiện phân tích công việc khác nhau. Theo Dessler, quy trình thực hiện phân tích công việc gồm 6 bước như sau: Bước 1: Xác định mục đích sử dụng thông tin phân tích công việc, từ đó ta mới xác định được các phương pháp thu thập thông tin.