phần mở đầu và kết luận gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị NNL trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác quản trị NNL khách sạn Hải Âu thời gian qua. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị NNL khách sạn Hải Âu đến 2020. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.3 Khái niệm về nguồn nhân lực Khái niệm “NNL” đƣợc sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nƣớc phƣơng Tây và một số nƣớc Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con ngƣời trong sự phát triển.
Ở nƣớc ta, khái niệm này đƣợc sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhƣng theo quan điểm riêng, luận văn ủng hộ quan điểm về NNL nhƣ sau: Theo nghĩa tƣơng đối hẹp, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lao động. Do vậy, nó có thể đƣợc lƣợng hóa là một bộ phận của dân số bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao quy định, đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lƣợng lao động. Theo nghĩa rộng, NNL đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Chính vì vậy, nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên giác độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bố nguồn nhân lực theo khu vực, vùng lãnh thổ… Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của ngƣời lao động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Tóm lại, trí tuệ, thể lực, đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lƣợng và sức mạnh của nguồn nhân lực.4 Khái niệm và ý nghĩa, vai trò của quản trị nguồn nhân lực Cũng nhƣ khái niệm “NNL”, khái niệm “quản trị NNL” ngày càng đƣợc hoàn thiện và đƣợc tiếp cận theo những góc độ khác nhau. Trong một nền kinh tế chuyển đổi nhƣ Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức độ thấp, kinh tế chƣa ổn định và Nhà nƣớc chủ trƣơng “quá trình phát triển phải thực hiện bằng con ngƣời và vì con ngƣời”, thì quản trị NNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên.
Tầm quan trọng của quản trị NNL tăng mạnh trên toàn thế giới trong mấy thập kỷ gần đây khi trình độ, năng lực của nhân viên đƣợc nâng cao và mức độ trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại; công việc ngày càng phức tạp, đa dạng và yêu cầu của công việc ngày càng tăng; hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trƣờng; phải vật lộn với các cuộc suy thoái kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân viên. Đặt biệt trong nền kinh tế chuyển đổi, nơi mà các sản phẩm đƣợc hoạch định, mọi ngƣời đã quen với việc đứng xếp hàng khi mua sắm, các nhà quản lý không hề có ý tƣởng quản trị kinh doanh. Kết quả là họ không có khả năng ra quyết định, không có khả năng chấp nhận rủi may, làm việc đơn thuần nhƣ một nhân viên hành chính, vấn đề áp dụng và phát triển quản trị NNL đƣợc coi nhƣ một trong những điểm mấu chốt của cải cách quản lý. Việt Nam không phải là một trƣờng hợp ngoại lệ.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng đã bộ lộ nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế. Điều này đƣợc coi nhƣ một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cản trở nền kinh tế phát triển. Thêm vào đó, Việt Nam còn phải đối đầu với những vấn đề gay gắt của một đất nƣớc sau chiến tranh và một nền kinh tế kém phát triển. Đất nƣớc lâm vào tình trạng thiếu thốn đủ thứ, ngoại trừ lao động không có trình độ lành nghề.
Trong khi vấn đề này chƣa kịp giải quyết xong, vấn đề khác đã xuất hiện. Cuộc đấu tranh khốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 liệt vì tồn tại và phát triển trong hòa bình có lẽ còn thách thức và quyết liệt hơn nhiều so với cuộc chiến tranh. Đổi mới quản lý kinh tế nói chung, quản trị NNL nói riêng thực sự là điều kiện cần thiết để khai thác nguồn tiềm năng to lớn thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao mức sống cho ngƣời dân. Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị con ngƣời trong DN.
Các DN cần có hệ thống quản trị NNL với những chính sách về tuyển dụng, đào tạo, trả lƣơng, khen thƣởng, đánh giá mới cho phù hợp với yêu cầu mới và cách tiếp cận quản trị NNL trong nền kinh tế thị trƣờng. Vấn đề quản trị con ngƣời trong tổ chức, DN không còn đơn thuần chỉ là vấn đề quản trị hành chính nhân viên. Tầm quan trọng của việc phối hợp các chính sách và thực tiễn quản trị nhân sự đƣợc nhấn mạnh. Nhiệm vụ quản trị con ngƣời là của tất cả các quản trị gia, không còn đơn thuần của trƣởng phòng nhân sự hay tổ chức cán bộ nhƣ trƣớc đây.
Việc cần thiết phải đặt đúng ngƣời cho đúng việc là phƣơng tiện quan trọng nhằm phối hợp thực tiễn quản trị con ngƣời với mục tiêu phát triển của tổ chức, doanh nghiệp. ĐẶC ĐIỂM QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHÁCH SẠN 1. Đặc điểm chung ngành kinh doanh khách sạn “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”. Kinh doanh khách sạn là ngành kinh doanh dịch vụ, sản phẩm tạo ra chủ yếu phải có sự tiếp xúc giữa con ngƣời với con ngƣời nên nó có những đặc điểm riêng biệt.
Kinh doanh khách sạn chịu sự phụ thuộc bởi tài nguyên du lịch. Vì khách sạn là nơi cƣ trú tạm thời, là điểm dừng chân của khách, số lƣợng khách khi họ tham gia hoạt động du lịch, tham quan, nghỉ ngơi, giải trí tại nơi có tài nguyên du lịch. Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lƣợng lao động trực tiếp tƣơng đối lớn. Sản phẩm khách sạn chủ yếu mang tính chất phục vụ do đó cần có khối lƣợng lao động lớn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Trong khách sạn thời gian làm việc hết sức căng thẳng về tinh thần, phải đảm bảo nhân viên phục vụ 24/24 giờ trong ngày, công việc lại mang tính chuyên môn hóa cao do vậy nó cũng cần một khối lƣợng lao động lớn để thay thế và có thể đảm bảo chất lƣợng “sản phẩm” cũng nhƣ sức khỏe của ngƣời lao động. Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi lƣợng vốn đầu tƣ ban đầu và đầu tƣ cố định rất cao, hoạt động kinh doanh khách sạn có tính chu kỳ. Nó hoạt động tùy theo thời vụ du lịch, vì hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ tồn tại và phát triển khi có nhu cầu khách đến. Khách du lịch cần có tài nguyên du lịch hấp dẫn, thời tiết, khí hậu ổn định, chúng ta không thể thay đổi đƣợc quy luật thiên nhiên, quy luật sinh lý nên hệ thống này mang tính chu kỳ.
Ngoài những đặc điểm chung cho kinh doanh khách sạn, kinh doanh ăn uống trong khách sạn cũng có những nét đặc trƣng cơ bản nhƣ: tổ chức phục vụ ăn uống phù hợp với yêu cầu và tập quán của khách du lịch có thành phần rất đa dạng; phục vụ tất cả các bữa ăn chính (sáng, trƣa, tối) và các bữa ăn phụ và phục vụ đồ uống; tạo ra những điều kiện và phƣơng thức phục vụ thuận lợi nhất cho khách tại khách sạn (phục vụ tại chỗ - nơi mà khách ƣa thích: phòng, bãi biển, trung tâm thể thao, phòng họp v. Bên cạnh đó các DN khách sạn còn cần chú ý tổ chức các hoạt động giải trí cho khách và kết hợp những yếu tố dân tộc cổ truyền trong cách bài trí kiến trúc, cách mặc đồng phục của nhân viên phục vụ hay ở hình thức của các dụng cụ ăn uống hay các món ăn đặc sản của nhà hàng. Theo đó, sản phẩm khách sạn cũng có những đặc trƣng: sản phẩm dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình; sản phẩm khách sạn có tính cao cấp; sản phẩm khách sạn có tính tổng hợp cao; sản phẩm của khách sạn chỉ đƣợc thực hiện với sự tham gia trực tiếp của khách hàng; sản phẩm khách sạn chỉ đƣợc thực hiện trong những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định. Những đặc trƣng này chi phối trực tiếp đến hoạt động của nhân viên và công tác quản lý, cụ thể đó là một trong những cơ sở để phân tích công việc và bố trí nhân viên trong công tác quản lý NNL.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đặc điểm nguồn nhân lực trong khách sạn NNL trong khách sạn là tập hợp đội ngũ cán bộ nhân viên đang làm việc tại khách sạn, góp sức lực và trí lực tạo ra sản phẩm đạt được những mục tiêu về doanh thu, lợi nhuận cho khách sạn. Đặc điểm về tính thời vụ: lao động trong khách sạn cũng nhƣ trong ngành du lịch đều có tính biến động lớn trong thời vụ du lịch. Trong chính vụ, do khối lƣợng khách lớn nên đòi hỏi số lƣợng lao động trong khách sạn phải lớn, phải làm việc với cƣờng độ mạnh và ngƣợc lại ở thời điểm ngoài vụ thì chỉ cần ít lao động thuộc về quản lý, bảo trì, bảo dƣỡng. Đặc điểm yêu cầu sử dụng một số lƣợng lớn lao động phục vụ trực tiếp trong khách sạn do các yếu tố sau: - Lao động trong khách sạn có tính công nghiệp hóa, chuyên môn hóa cao, làm việc theo một nguyên tắc, có tính kỷ luật cao.
Trong quá trình lao động cần thao tác kỹ thuật chính xác, nhanh nhạy và đồng bộ.