Luận văn đại học thương mại giải pháp quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn jotun của công ty tnhh thƣơng mại và đầu tƣ xây dựng sơn việt

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận văn đại học thương mại giải pháp quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn jotun của công ty tnhh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Luật thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

64
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên

1.2. Khái niệm chung về công ty và quá trình hình thành công ty TNHH một thành viên

1.3. Khái niệm và đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên

1.4. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên

1.4.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên

1.4.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên

1.5. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên

1.5.1. Nguyên tắc tự do ý chí và tự do kinh doanh

1.5.2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH THU NGÂN

2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên

2.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH

2.2. Phân tích thực trạng quy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên

2.2.1. Quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty TNHH một thành viên

2.2.2. Quy định về tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên

2.2.3. Chế độ tài chính và vốn của công ty TNHH một thành viên

2.2.4. Quyền và nghĩa vụ của công ty, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên

2.3. Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên tại Công ty TNHH Thu Ngân

2.3.1. Thực trạng thực hiện các quy phạm quy chế thành lập, đăng ký kinh doanh tại Công ty TNHH một thành viên

2.3.2. Thực trạng thực hiện các quy phạm quy định về tổ chức quản lý Công ty TNHH Thu Ngân

2.3.3. Thực trạng thực hiện các quy phạm chế độ tài chính và vốn Công ty TNHH Thu Ngân

2.3.4. Thực trạng thực hiện các quy phạm quyền và nghĩa vụ của công ty, chủ sở hữu công ty TNHH Thu Ngân

2.4. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu

2.4.1. Điểm tích cực

2.4.2. Điểm hạn chế

3. CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về Công ty TNHH một thành viên

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về công ty nói chung và pháp luật điều chỉnh về công ty TNHH một thành viên

3.4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty TNHH một thành viên

3.5. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun

Quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun tại Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt là một yếu tố quan trọng trong chiến lược kinh doanh. Kênh phân phối không chỉ giúp sản phẩm đến tay người tiêu dùng mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho thương hiệu. Việc hiểu rõ về các kênh phân phối hiện có và cách thức hoạt động của chúng sẽ giúp công ty tối ưu hóa quy trình phân phối, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.1. Các loại kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun

Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt sử dụng nhiều loại kênh phân phối khác nhau cho sản phẩm sơn Jotun. Các kênh này bao gồm kênh phân phối trực tiếp, kênh phân phối gián tiếp qua đại lý và các nhà phân phối. Mỗi loại kênh có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường và chi phí phân phối.

1.2. Vai trò của quản trị kênh phân phối trong chiến lược kinh doanh

Quản trị kênh phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và tạo dựng lòng tin với khách hàng. Đối với sản phẩm sơn Jotun, việc lựa chọn kênh phân phối phù hợp không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu mà còn đảm bảo sự hài lòng của khách hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng.

II. Thách thức trong quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun. Những thách thức này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và sự phát triển bền vững của công ty.

2.1. Cạnh tranh từ các thương hiệu khác

Thị trường sơn tại Việt Nam đang ngày càng trở nên cạnh tranh hơn với sự xuất hiện của nhiều thương hiệu lớn. Điều này tạo ra áp lực lớn cho Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt trong việc duy trì và mở rộng thị phần cho sản phẩm sơn Jotun.

2.2. Khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ với đối tác phân phối

Việc duy trì mối quan hệ tốt với các đối tác phân phối là rất quan trọng. Tuy nhiên, sự thay đổi trong chính sách hoặc chiến lược của các đối tác có thể gây ra khó khăn cho công ty trong việc đảm bảo nguồn cung và phân phối sản phẩm sơn Jotun một cách hiệu quả.

III. Giải pháp tối ưu hóa quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun

Để vượt qua những thách thức trong quản trị kênh phân phối, Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt cần áp dụng các giải pháp tối ưu hóa. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả phân phối mà còn nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

3.1. Tăng cường đào tạo cho đội ngũ nhân viên

Đào tạo đội ngũ nhân viên về sản phẩm và kỹ năng bán hàng là một trong những giải pháp quan trọng. Nhân viên được trang bị kiến thức đầy đủ sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo dựng lòng tin với khách hàng.

3.2. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác phân phối

Công ty cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác phân phối thông qua các chương trình khuyến mãi và hỗ trợ kỹ thuật. Điều này sẽ giúp tăng cường sự hợp tác và đảm bảo sự ổn định trong kênh phân phối.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quản trị kênh phân phối

Việc áp dụng các giải pháp quản trị kênh phân phối tại Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những kết quả này không chỉ thể hiện qua doanh thu mà còn qua sự hài lòng của khách hàng.

4.1. Tăng trưởng doanh thu từ sản phẩm sơn Jotun

Sau khi áp dụng các giải pháp tối ưu hóa, doanh thu từ sản phẩm sơn Jotun đã có sự tăng trưởng đáng kể. Điều này cho thấy hiệu quả của việc quản trị kênh phân phối trong việc nâng cao doanh số bán hàng.

4.2. Sự hài lòng của khách hàng được cải thiện

Khách hàng đã thể hiện sự hài lòng cao hơn với sản phẩm và dịch vụ của công ty. Điều này không chỉ giúp công ty giữ chân khách hàng mà còn thu hút thêm khách hàng mới.

V. Kết luận và tương lai của quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun

Quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn Jotun tại Công ty TNHH Thương mại và Đầu tư Xây dựng Sơn Việt là một yếu tố quyết định đến sự thành công của công ty. Trong tương lai, công ty cần tiếp tục cải tiến và đổi mới các phương pháp quản trị để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

5.1. Định hướng phát triển kênh phân phối trong tương lai

Công ty cần xác định rõ định hướng phát triển kênh phân phối trong tương lai, bao gồm việc mở rộng các kênh phân phối mới và cải thiện các kênh hiện tại để tối ưu hóa hiệu quả.

5.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản trị kênh phân phối

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị kênh phân phối sẽ giúp công ty nâng cao hiệu quả quản lý và theo dõi hoạt động phân phối, từ đó cải thiện khả năng phục vụ khách hàng.

27/07/2025
Luận văn đại học thương mại giải pháp quản trị kênh phân phối sản phẩm sơn jotun của công ty tnhh thƣơng mại và đầu tƣ xây dựng sơn việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 1. Khái niệm chung về công ty và quá trình hình thành công ty TNHH một thành viên Công ty cũng như bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào khác ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định. Các công ty với tư cách là những pháp nhân độc lập cùng với những thành viên có TNHH xuất hiện với số lượng lớn từ năm 1870.

Nhưng những mầm mống của công ty hiện đại có thể nhận thấy trong việc thừa nhận TNHH ở Luật La Mã, các công ty thương mại và ngân hàng ở thế kỷ XIV, các công ty Anh thế kỷ XVII. Những công ty thương mại đối nhân đầu tiên chính thức xuất hiện vào thế kỷ thứ XIII ở một số thành phố của các nước Châu Âu, nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán. Sang thế kỷ XVIII, XIX, cùng với quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở Châu Âu, Châu Mỹ, đã xuất hiện các công ty cổ phần đáp ứng được nhu cầu tập trung nguồn vốn của các nhà đầu tư. Trong khoảng 100 năm trở lại đây, số lượng các loại hình công ty đã phát triển rất nhanh, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế nói riêng và đời sống xã hội nói chung.Sự ra đời các công ty xuất phát từ những nhu cầu tất yếu khách quan của đời sống xã hội.

Cụ thể: Trong xã hội, khi việc sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhất định, xuất hiện nhu cầu cần phải mở mang kinh doanh. Từ nhu cầu mở mang quy mô kinh doanh, xuất hiện các nhu cầu về vốn. Để đáp ứng nhu cầu này, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau. Đầu tiên, những người quen biết nhau, tin cẩn nhau liên kết với nhau, tạo ra các công ty đối nhân.

Sau đó sự liên kết này được mở rộng tới các thành viên có thể không quen biết nhau mà chỉ cần có vốn, có tài sản. Trên cơ sở đó, các công ty đối vốn xuất hiện. Như vậy, một mô hình tổ chức kinh doanh mới đã ra đời - đó là các công ty.Ngoài ra, trong một xã hội có nền sản xuất hàng hóa phát triển, luôn luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các công ty.

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có vốn đầu tư thấp thường rơi vào vị trí bất lợi trong quá trình cạnh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Để tránh sự bất lợi đó, các nhà kinh doanh cần liên kết nhau lại thông qua hình thức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp nhằm tạo thế đứng vững chắc trên thị trường. Mặt khác, trong kinh doanh thường phát sinh rủi ro. Trong trường hợp đó đòi hỏi các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau để có thể phân chia rủi ro cho nhiều người.

Tóm lại, khi hai hay nhiều người cùng góp vốn thành lập một doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau đã hình thành một loại hình doanh nghiệp gọi là công ty. Trong thực tế, mô hình liên kết này tỏ ra phù hợp với nền kinh tế thị trường và rất hấp dẫn đối với nhiều nhà kinh doanh. Sự ra đời của công ty là sản phẩm tất yếu của quá tình liên kết, hợp tác, phản ánh sự phát triển mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường. Xét thấy, sự ra đời của mô hình công ty là kết quả tất yếu của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội.

Vậy khái niệm chung về công ty được hiểu như thế nào? Công ty được hiểu trên nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau.Ở góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thương nghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên hoạt động sản xuất.Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công ty khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nói chung có một số điểm cơ bản chung thống nhất. Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập. Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty.Khái niệm về công ty của các nước như Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác nhau đều chứa đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết thì phải có nhiều người.

Công ty sẽ không thỏa mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập. Chủ thể ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân. Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau. Năm 1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước.

Luật Công ty 1990 định nghĩa: Công ty TNHH và công ty cổ phần gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật Công ty ghi nhận công ty là doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần. Công ty có tư cách pháp nhân độc lập, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ đã góp vào công ty. Việc thành lập công ty ở đây dựa trên yếu tố liên kết đó là vốn gốp của các thành viên.

Công ty được hiểu theo nghĩa truyền thống, đó là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Công ty ở đây chỉ bao gồm hai loại công ty là công ty TNHH và công ty cổ phần. Tại thời điểm này, khái niệm công ty ở Việt Nam giống khái niệm công ty ở Mỹ, đó là chỉ có loại hình công ty đối vốn. Pháp luật Mỹ chỉ phân biệt hai trường hợp: công ty có phát hành cổ phiếu và công ty không phát hành cổ phiếu.

Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 của nước CHXHCN Việt Nam, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại hình công ty. Công ty theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 1999 đã được mở rộng: công ty bao gồm công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh. Trong đó công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên. Như vậy, Luật Doanh nghiệp 1999 bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty hợp danh.

Theo Luật Doanh nghiệp 1999 thì khái niệm công ty không còn nguyên vẹn theo nghĩa truyền thống của nó nữa. Công ty có thể là doanh nghiệp do một người làm chủ sở hữu, tức là pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên cũng có nghĩa là phá vỡ ý nghĩa “liên kết” của công ty. Một thành viên là tổ chức có thể độc lập thành lập công ty, có tư cách pháp nhân. Luật Doanh nghiệp 2005 không đưa ra định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể của các loại hình công ty: công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 38, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều63, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty cổ phần (khoản 1 Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty hợp danh.

Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 không có sự thay đổi nhiều về các khái niệm cụ thể các loại hình công ty: Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 47, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty cổ phần (Khoản 1, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 110, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty hợp danh(Khoản 1, Điều 172, Luật Doanh nghiệp 2014). Nhìn một cách khái quát thì “công ty” theo Luật Doanh nghiệp 2005 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2014 được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Đây là sự thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển doanh nghiệp ở nhiều nước trên thế giới.Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảm cho các thành phần kinh tế có thể tham gia một cách dễ dàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế ổn định, bền vững.Do vậy, việc ban hành Luật Doanh nghiệp thống nhất không những chỉ bảo đảm sự công bằng về chế độ pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước mà còn đảm bảo sự công bằng về chế độ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài. Khái niệm và đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên  Khái niệm: Theo Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014 nêu rõ khái niệm về công ty TNHH mộtthành viên: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.” Thực tiễn kinh doanh ở nước ta, các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như công ty TNHH một thành viên (một chủ sở hữu).

Luật Doanh nghệp năm 1999 chỉ quy định công ty TNHH một thành viên là tổ chức, Luật Doanh nghiệp 2005 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên. Công ty TNHH một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân nhưng không có quyền phát hành cổ phiếu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ