CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh công ty TNHH một thành viên 1. Khái niệm chung về công ty và quá trình hình thành công ty TNHH một thành viên Công ty cũng như bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào khác ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định. Các công ty với tư cách là những pháp nhân độc lập cùng với những thành viên có TNHH xuất hiện với số lượng lớn từ năm 1870.
Nhưng những mầm mống của công ty hiện đại có thể nhận thấy trong việc thừa nhận TNHH ở Luật La Mã, các công ty thương mại và ngân hàng ở thế kỷ XIV, các công ty Anh thế kỷ XVII. Những công ty thương mại đối nhân đầu tiên chính thức xuất hiện vào thế kỷ thứ XIII ở một số thành phố của các nước Châu Âu, nơi có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán. Sang thế kỷ XVIII, XIX, cùng với quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở Châu Âu, Châu Mỹ, đã xuất hiện các công ty cổ phần đáp ứng được nhu cầu tập trung nguồn vốn của các nhà đầu tư. Trong khoảng 100 năm trở lại đây, số lượng các loại hình công ty đã phát triển rất nhanh, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế nói riêng và đời sống xã hội nói chung.Sự ra đời các công ty xuất phát từ những nhu cầu tất yếu khách quan của đời sống xã hội.
Cụ thể: Trong xã hội, khi việc sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhất định, xuất hiện nhu cầu cần phải mở mang kinh doanh. Từ nhu cầu mở mang quy mô kinh doanh, xuất hiện các nhu cầu về vốn. Để đáp ứng nhu cầu này, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau. Đầu tiên, những người quen biết nhau, tin cẩn nhau liên kết với nhau, tạo ra các công ty đối nhân.
Sau đó sự liên kết này được mở rộng tới các thành viên có thể không quen biết nhau mà chỉ cần có vốn, có tài sản. Trên cơ sở đó, các công ty đối vốn xuất hiện. Như vậy, một mô hình tổ chức kinh doanh mới đã ra đời - đó là các công ty.Ngoài ra, trong một xã hội có nền sản xuất hàng hóa phát triển, luôn luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các công ty.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có vốn đầu tư thấp thường rơi vào vị trí bất lợi trong quá trình cạnh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Để tránh sự bất lợi đó, các nhà kinh doanh cần liên kết nhau lại thông qua hình thức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp nhằm tạo thế đứng vững chắc trên thị trường. Mặt khác, trong kinh doanh thường phát sinh rủi ro. Trong trường hợp đó đòi hỏi các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau để có thể phân chia rủi ro cho nhiều người.
Tóm lại, khi hai hay nhiều người cùng góp vốn thành lập một doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau đã hình thành một loại hình doanh nghiệp gọi là công ty. Trong thực tế, mô hình liên kết này tỏ ra phù hợp với nền kinh tế thị trường và rất hấp dẫn đối với nhiều nhà kinh doanh. Sự ra đời của công ty là sản phẩm tất yếu của quá tình liên kết, hợp tác, phản ánh sự phát triển mang tính quy luật của nền kinh tế thị trường. Xét thấy, sự ra đời của mô hình công ty là kết quả tất yếu của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội.
Vậy khái niệm chung về công ty được hiểu như thế nào? Công ty được hiểu trên nhiều nghĩa, nhiều khía cạnh khác nhau.Ở góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu là các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh thương nghiệp dịch vụ, nhằm phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên hoạt động sản xuất.Trong khoa học pháp lý, mỗi nước có một định nghĩa công ty khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của công ty, pháp luật của các nước nói chung có một số điểm cơ bản chung thống nhất. Công ty do hai chủ thể trở lên góp vốn thành lập. Đây là quan niệm truyền thống từ trước đến nay về công ty.Khái niệm về công ty của các nước như Pháp, Đức, Thái Lan và một số nước khác nhau đều chứa đựng yếu tố liên kết, mà muốn liên kết thì phải có nhiều người.
Công ty sẽ không thỏa mãn yếu tố liên kết nếu chỉ có một chủ thể góp vốn để thành lập. Chủ thể ở đây có thể hiểu là các cá nhân hoặc pháp nhân. Công ty có thể là sự liên kết giữa hai hay nhiều cá nhân với nhau. Năm 1990, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Công ty nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh trong nước.
Luật Công ty 1990 định nghĩa: Công ty TNHH và công ty cổ phần gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên đều góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật Công ty ghi nhận công ty là doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần. Công ty có tư cách pháp nhân độc lập, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp mà họ đã góp vào công ty. Việc thành lập công ty ở đây dựa trên yếu tố liên kết đó là vốn gốp của các thành viên.
Công ty được hiểu theo nghĩa truyền thống, đó là sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức thông qua hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Công ty ở đây chỉ bao gồm hai loại công ty là công ty TNHH và công ty cổ phần. Tại thời điểm này, khái niệm công ty ở Việt Nam giống khái niệm công ty ở Mỹ, đó là chỉ có loại hình công ty đối vốn. Pháp luật Mỹ chỉ phân biệt hai trường hợp: công ty có phát hành cổ phiếu và công ty không phát hành cổ phiếu.
Trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 của nước CHXHCN Việt Nam, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể về các loại hình công ty. Công ty theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 1999 đã được mở rộng: công ty bao gồm công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh. Trong đó công ty TNHH bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty TNHH hai thành viên. Như vậy, Luật Doanh nghiệp 1999 bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là tổ chức và công ty hợp danh.
Theo Luật Doanh nghiệp 1999 thì khái niệm công ty không còn nguyên vẹn theo nghĩa truyền thống của nó nữa. Công ty có thể là doanh nghiệp do một người làm chủ sở hữu, tức là pháp luật Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên cũng có nghĩa là phá vỡ ý nghĩa “liên kết” của công ty. Một thành viên là tổ chức có thể độc lập thành lập công ty, có tư cách pháp nhân. Luật Doanh nghiệp 2005 không đưa ra định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm cụ thể của các loại hình công ty: công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 38, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều63, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty cổ phần (khoản 1 Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005), công ty hợp danh.
Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 không có sự thay đổi nhiều về các khái niệm cụ thể các loại hình công ty: Công ty TNHH hai thành viên trở lên (Khoản 1, Điều 47, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty TNHH một thành viên (Khoản 1, Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty cổ phần (Khoản 1, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 110, Luật Doanh nghiệp 2014), công ty hợp danh(Khoản 1, Điều 172, Luật Doanh nghiệp 2014). Nhìn một cách khái quát thì “công ty” theo Luật Doanh nghiệp 2005 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2014 được quy định cụ thể rõ ràng hơn, bổ sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Đây là sự thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta cũng như xu thế phát triển doanh nghiệp ở nhiều nước trên thế giới.Chính sự thay đổi này đã tạo ra cơ chế huy động vốn mềm dẻo, bảo đảm cho các thành phần kinh tế có thể tham gia một cách dễ dàng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, từ đó tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng một nền kinh tế ổn định, bền vững.Do vậy, việc ban hành Luật Doanh nghiệp thống nhất không những chỉ bảo đảm sự công bằng về chế độ pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước mà còn đảm bảo sự công bằng về chế độ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài. Khái niệm và đặc điểm pháp lý công ty TNHH một thành viên Khái niệm: Theo Điều 73, Luật Doanh nghiệp 2014 nêu rõ khái niệm về công ty TNHH mộtthành viên: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.” Thực tiễn kinh doanh ở nước ta, các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội về bản chất cũng được tổ chức và hoạt động giống như công ty TNHH một thành viên (một chủ sở hữu).
Luật Doanh nghệp năm 1999 chỉ quy định công ty TNHH một thành viên là tổ chức, Luật Doanh nghiệp 2005 đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên. Công ty TNHH một thành viên thuộc loại hình công ty đối vốn có tư cách pháp nhân nhưng không có quyền phát hành cổ phiếu.