Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lí thuế đối với doanh nghiệp. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về thuế và quản lý thuế đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và chức năng của thuế 1.
Khái niệm thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chƣa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế đƣợc quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những đóng góp của những ngƣời công dân của Nhà nƣớc đó là thuế khóa…”. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một Nhà nƣớc có giai cấp (một giai cấp giành đƣợc quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm khác nhau về thuế, đƣợc nhìn nhận trên các bình diện khác. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tƣợng chịu thuế đã cho rằng: “Thuế là biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”. Một khái niệm khác về thuế tƣơng đối hoàn thiện đƣợc nêu lên trong cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá nhƣ sau : “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà 6 trong sự trao đổi đó họ không nhận đƣợc trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” Trên giác độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Trên giác độ ngƣời nộp thuế, thuế đƣợc coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nƣớc.
Dù trải qua nhiều giai đoạn và đƣợc nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhƣng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hƣớng cổ điển vẫn còn đang đƣợc áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trƣờng, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đƣa ra trong giáo trình Tài chính công. Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đƣa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay nhƣ sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”[12] 1. Đặc điểm thuế - Tính bắt buộc[13] Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E. Stiglitz cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ ngƣời này sang ngƣời kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”.[11] Thu nhập của ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao cho Nhà nƣớc mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế.
7 Tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa là việc đóng thuế cho Nhà nƣớc không phải là kết quả nảy sinh từ hành vi phạm pháp mà là nghĩa vụ đóng góp đƣợc pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh. Khác với hình thức động viên khác: + Hình thức phí, lệ phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. + Phạt tiền cũng là hình thức bắt buộc, song nó chỉ xảy ra khi ngƣời bị phạt có hành vi vi phạm luật lệ làm phƣơng hại đến lợi ích Nhà nƣớc hoặc cộng đồng. - Tính không hoàn trả trực tiếp[13] Trƣớc khi thu thuế, Nhà nƣớc không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho ngƣời nộp thuế.
Ngƣời nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ không đƣợc hoặc ít đƣợc hƣởng những lợi ích trực tiếp từ Nhà nƣớc. Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ đƣợc hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nƣớc cho cộng đồng và xã hội. Thuế khác với hình thức động viên khác nhƣ Phí, lệ phí và tín dụng nhà nƣớc bởi những khoản này có tính chất đối ứng rõ rệt và phần nào đó mang tính chất tự nguyện, trao đổi ngang bằng giữa khoản phải trả và lợi ích dịch vụ mà họ nhận đƣợc - Tính pháp lý cao[13] Tính pháp lý đƣợc quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nƣớc. Nhà kinh tế học Joseph E.
Stiglitz nói rằng: “Việc chuyển giao bắt buộc này giống nhƣ là ăn trộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là: Trong khi cả hai cách đều là không tự nguyện, thì cách chuyển qua Chính phủ có mang tấm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do các quá trình chính trị ban cho”.[11] Đƣợc thể hiện thông qua các quy định cần thiết về phạm vi, hình thức và các thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế nhƣ: Đối tƣợng chịu thuế, ngƣời nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cƣỡng chế khác. Chức năng của thuế Chức năng của thuế là sự thể hiện công dụng vốn có của thuế, và nó có tính ổn định tƣơng đối. Trong suốt thời gian tồn tại và phát triển thuế luôn luôn thực hiện hai chức năng cơ bản sau: - Chức năng huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là phƣơng tiện động viên nguồn tài chính cho Nhà nƣớc, là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng huy động nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc đƣợc hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nƣớc.
Chức năng này đã tạo ra những tiền đề để nhà nƣớc tiến hành phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm của xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Thuế là một nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất cho ngân sách Nhà nƣớc. - Chức năng điều tiết kinh tế Chức năng điều tiết kinh tế của thuế đƣợc thực hiện thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tƣợng chịu thuế và ngƣời nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế, sử dụng linh họat các ƣu đãi và miễn giảm thuế. Trên cơ sở đó, Nhà nƣớc kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp lợi ích của xã hội.
Nhƣ vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết kinh tế của thuế đã đƣợc thực hiện. Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết kinh tế có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng huy động nguồn lực tài chính quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều tiết. Ngƣợc lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển.
Chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm bảo nguồn thu nhập cho Nhà nƣớc đã tạo ra những điều kiện để Nhà nƣớc tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội. Điều này tạo ra tiền đề tăng 9 thêm thu nhập cho các Doanh nghiệp và các tầng lớp dân cƣ, do đó mở rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính. Cùng với sự thống nhất đó, thì giữa hai chức năng này của thuế cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn. Sự tăng cƣờng chức năng huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nƣớc tăng lên.
Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nƣớc trong việc thực hiện các chƣơng trình kinh tế- xã hội. Mặt khác, việc tăng cƣờng chức năng huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là giảm động lực phát triển kinh tế và làm xói mòn vai trò điều tiết kinh tế. Do vậy, trong quá trình quản lý thuế, hoạch định các chính sách thuế ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau cần phải chú ý đến mỗi quan hệ giữa chức năng điều tiết kinh tế và chức năng huy động nguồn tài chính của thuế. Các loại thuế trong doanh nghiệp 1.
Thuế GTGT Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.