MỞ ĐẦU Trong thời gian qua để làm tốt công tác quản lý bảo vệ & phát triển vốn rừng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ và phát triển rừng và quản lý lâm sản. Nhà nước đầu tư nhiều kinh phí, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện công tác trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi trọc, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh các khu rừng non, rừng nghèo, thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên có các loại động vật, thực vật quý hiếm để bảo vệ nghiêm ngặt, nên công cuộc bảo tồn và phát triển vốn rừng đã có những kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế, khoa học, môi trường sinh thái và an ninh quốc phòng. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân từ khách quan đến chủ quan như: Thiếu lực lượng chuyên trách, thiếu kinh phí đầu tư và quan trọng nhất là thiếu một chiến lược phát triển toàn diện và nhất quán trong công tác quản lý bảo vệ rừng, nên tình trạng xâm hại tài nguyên rừng ở một số nơi vẫn xảy ra nghiêm trọng, làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, trử lượng và chất lượng rừng giảm sút. Một số động, thực vật bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt có nguy cơ bị tuyệt chủng, mức độ đa dạng sinh học của rừng giảm đi.
Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chất lượng rừng trên địa bàn bị suy giảm là công tác quản lý bảo vệ rừng chỉ coi trọng biện pháp hành chính Nhà nước mà chưa lôi cuốn được cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng. Chính vì vậy công tác quản lý bảo vệ rừng đang đặt ra những vấn đề hết sức bức thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của cộng đồng, sự đổi mới của lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, nhằm đề ra những giải pháp chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng trước mắt cũng như lâu dài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Quản lý, bảo vệ rừng là một hệ thống các biện pháp tổng hợp từ ban hành chế độ chính sách, cơ chế quản lý, các giải pháp kinh tế - kỷ thuật. để giải quyết tốt mối quan hệ tương hổ giữa Con người - Rừng cây - Xã hội, nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo này, dự báo và ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng bất lợi của tự nhiên và con người đến tài nguyên rừng, từ đó duy trì phát triển bền vững vốn rừng một cách lâu dài và liên tục.
Đakrông là một huyện phía Tây Nam tỉnh Quảng trị có tổng diện tích tự nhiên là 122.467,40 ha, trong đó diện tích rừng 80.022,94 ha, độ che phủ của rừng chiếm 64,72%%, có khí hậu tương đối khắc nghiệt, mùa nắng nóng kéo dài, khô hạn, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam. Trên địa bàn có 03 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô. Điều kiện kinh tế, xã hội nói chung còn gặp nhiều khó khăn, đời sống của nhân dân còn nghèo, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thu nhập của của người dân trên địa bàn huyện và trình độ dân trí còn thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp còn lạc hậu, ý thức về công tác bảo vệ rừng chưa cao, một bộ phận nhân dân còn chuyên sống dựa vào rừng, tình hình xâm hại tài nguyên rừng một số nơi vẫn còn diễn ra. Hệ thống quản lý bảo vệ rừng ở đây chủ yếu dựa vào các cơ quan Nhà nước, các chủ rừng và các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng.
Việc tham gia quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng đã từng bước được triển khai tuy nhiên vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong và ngoài nước đã chứng minh rằng cộng đồng dân cư là đối tượng thích hợp nhất quản lý bảo vệ rừng, nhất là đối với các diện tích rừng phòng hộ, xa dân cư mà hộ gia đình, các tổ chức không thể quản lý bảo vệ được. Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là hình thức nhằm nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho cộng đồng và các bên liên quan, từ đó đạt được mục LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 tiêu quản lý bảo vệ rừng bền vững. Hiện nay, các công trình nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Đakrông chưa có, vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện mô hình này là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên mà tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị". Đề tài góp phần làm rõ vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể quản lý bảo vệ rừng (rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ và hưởng lợi). Các tổng kết trong quản lý, bảo vệ rừng mà đề tài rút ra được sẽ làm phong phú thêm các kinh nghiệm về quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Đóng góp cơ sở lý luận để hình thành các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của cộng đồng và phát triển tài nguyên rừng, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức về quản lý rừng cộng đồng. Khái niệm về cộng đồng Các nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về cộng đồng: Theo FAO, 2000: Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn, bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hóa xã hội. Quân, 2000: Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Luật đất đai (2013) và Luật Lâm nghiệp (2017): Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ; Từ các khái niệm trên cho thấy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thuộc làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung.
Ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng). Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là quản lý rừng mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn, phát triển hệ sinh thái rừng; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đến rừng như: chặt, phá, lấn chiếm rừng, săn, bẫy bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng, và thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng. Những giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phát huy những yếu tố tích cực của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 luật tục, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ).
LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000). Theo Arnold (1992) đưa ra: Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên. Ở Việt Nam, hiện nay có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau: - Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Là đối tượng chính trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Đó là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, rừng di tích văn hóa lịch sử…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng để quản lý bảo vệ và hưởng lợi với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vào cộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng. + Đối tượng thứ hai, rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước (rừng do UBND xã quản lý theo QĐ 07/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng.