Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng dân số đô thị và tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng tại Việt Nam đang tạo ra sức ép khổng lồ lên hệ thống quản lý môi trường. Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, mỗi năm cả nước phát sinh hơn 15 triệu tấn chất thải rắn, trong đó rác thải sinh hoạt đô thị chiếm khoảng 12,8 triệu tấn (tương đương 80% tổng lượng phát sinh) với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 10% đến 12% mỗi năm. Tại thành phố Lạng Sơn – trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của tỉnh Lạng Sơn, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ cùng sự gia tăng quy mô dân số lên 96.347 người vào năm 2018 đã khiến lượng rác thải sinh hoạt phát sinh không ngừng tăng cao, chạm mốc 80,3 tấn/ngày.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực trạng hạ tầng xử lý rác của thành phố còn lạc hậu, địa hình miền núi chia cắt phức tạp làm tăng chi phí vận chuyển, trong khi bãi chôn lấp tập trung xa trung tâm hoạt động theo hình thức lộ thiên chưa hợp vệ sinh, gây nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt sông Kỳ Cùng và môi trường không khí khu dân cư. Luận văn thạc sĩ khoa học môi trường của tác giả Nông Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Bùi Xuân Dũng tại Trường Đại học Lâm Nghiệp, được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở khoa học, đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian gồm 5 phường nội thành và 3 xã ngoại thành, với thời gian thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 12/2018 đến tháng 03/2019. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom rác thải đạt trên 95%, giảm thiểu 30% lượng chất thải hữu cơ chôn lấp trực tiếp và nâng cao hiệu lực quản lý đô thị miền núi biên giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý chất thải rắn tích hợp (Integrated Solid Waste Management - ISWM) và mô hình thứ bậc quản lý chất thải (Waste Hierarchy), ưu tiên giảm thiểu tại nguồn, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và hạn chế tối đa việc chôn lấp trực tiếp. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa theo Luật Bảo vệ Môi trường 2014 và Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm 5 thuật ngữ cốt lõi: chất thải rắn sinh hoạt, hoạt động thu gom, phân loại tại nguồn, vận chuyển chất thải và xử lý chất thải bằng công nghệ hợp vệ sinh.

Hệ thống công cụ quản lý môi trường được vận dụng toàn diện trong khuôn khổ đề tài, gồm 3 nhóm:

  • Nhóm công cụ pháp lý và chính sách: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính, Thông tư 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại và Thông tư 08/2017/TT-BXD về quản lý chất thải xây dựng.
  • Nhóm công cụ kinh tế: Cơ chế thu phí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, chính sách ưu đãi tài chính nhằm khuyến khích xã hội hóa đầu tư hạ tầng môi trường.
  • Nhóm công cụ kỹ thuật: Các giải pháp công nghệ ủ sinh học yếm khí tùy nghi, chế biến phân hữu cơ vi sinh (compost) và quy chuẩn xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học:

  • Dữ liệu thứ cấp: Kế thừa và phân tích các chuỗi số liệu thống kê dân số từ Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2015-2018, số liệu vận hành thu gom của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Lạng Sơn, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lạng Sơn và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện điều tra thực địa với cỡ mẫu 90 hộ gia đình được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho 8 đơn vị hành chính (5 phường nội thành chọn bình quân 13 hộ/phường và 3 xã ngoại thành chọn bình quân 9-10 hộ/xã). Quy mô hộ gia đình dao động từ 2 đến 6 nhân khẩu (trung bình 4 nhân khẩu/hộ). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bao quát sự khác biệt về mức sống, tính chất nghề nghiệp và thói quen sinh hoạt giữa lõi đô thị thương mại và vùng ven nông nghiệp.
  • Quy trình lấy mẫu và phân tích: Tại 90 hộ điều tra, tác giả bố trí 2 thùng chứa riêng biệt (1 thùng chứa rác hữu cơ và 1 thùng chứa rác vô cơ). Rác thải được thu gom, phân loại thành phần vật lý và cân khối lượng liên tục trong 10 ngày (từ ngày 16/02/2019 đến ngày 25/02/2019) bằng cân kỹ thuật chuẩn.
  • Phương pháp dự báo: Áp dụng mô hình hàm ngoại suy chuỗi thời gian dựa trên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm r = 0,95% và hệ số phát thải chất thải rắn bình quân đầu người để tính toán tải lượng rác đến năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực nghiệm đã chỉ ra các phát hiện định lượng quan trọng về dòng chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn:

  • Thứ nhất, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tăng đều qua các năm: Từ 72,6 tấn/ngày năm 2015 tăng lên 75,5 tấn/ngày năm 2016; 78,2 tấn/ngày năm 2017 và đạt 80,3 tấn/ngày vào năm 2018 (tương ứng mức tăng trưởng bình quân khoảng 3,4%/năm). Hệ số phát sinh bình quân đầu người tại khu vực các phường trung tâm là 0,84 kg/người/ngày, cao gấp 1,5 lần so với khu vực các xã ngoại thành (đạt 0,56 kg/người/ngày).
  • Thứ hai, nguồn phát sinh rác thải phân bổ không đồng đều: Nguồn từ hộ gia đình dân cư và các cơ sở y tế chiếm tỷ trọng chi phối lớn nhất lên tới 48% tổng lượng phát sinh; phần còn lại 52% chia cho các nguồn chợ, trung tâm thương mại, công trình công cộng và hoạt động sản xuất kinh doanh (dao động từ 4% đến 18% cho mỗi nhóm).
  • Thứ ba, thành phần vật lý của rác thải sinh hoạt có đặc thù rất riêng: Chất thải trơ (đất, cát, sỏi, gạch ngói vỡ, tro xỉ than) chiếm tỷ lệ áp đảo lên đến 68,58% tổng trọng lượng mẫu kiểm tra. Nhóm chất hữu cơ dễ phân hủy (thức ăn thừa, rau củ quả) chiếm 10,34%; nhựa và cao su chiếm 9,20%; thủy tinh chiếm 3,83%; hàng dệt may chiếm 3,07%; gỗ củi chiếm 2,68%; giấy các loại chiếm 1,92% và kim loại chiếm 0,38%.
  • Thứ tư, kết quả khảo sát 90 hộ gia đình cho thấy khối lượng rác phát sinh biến động mạnh từ 0,6 kg/hộ/ngày đến 3,8 kg/hộ/ngày. Trong đó, 85,0% lượng rác từ hộ gia đình là thức ăn thừa và phế phẩm nhà bếp, 15,0% là bao bì nilon và vật phẩm tái chế. Tỷ lệ thu gom rác tại 5 phường nội thành đạt mức cao từ 87% đến 95%, nhưng tại xã vùng ven như Quảng Lạc tỷ lệ này mới dừng lại ở mức 80%.

Thảo luận kết quả

Tỷ trọng chất thải trơ chiếm tới 68,58% phản ánh rõ nét đặc trưng của một đô thị miền núi đang trong giai đoạn đẩy mạnh chỉnh trang cơ sở hạ tầng, với 23 dự án phát triển đô thị mới và hoạt động xây dựng, lát gạch vỉa hè tự chèn diễn ra trên diện rộng. Kết quả này có sự khác biệt rõ rệt khi so sánh với các đô thị đồng bằng lớn như Hà Nội hay Hải Phòng, nơi rác hữu cơ thường chiếm từ 53,81% đến 68,47% trong thành phần rác thải đầu vào bãi chôn lấp. Tại thành phố Lạng Sơn, tỷ lệ rác hữu cơ thu gom được thấp (10,34%) là do phần lớn phụ phẩm nông nghiệp và thức ăn thừa ở khu vực ngoại thành vẫn được người dân tận dụng triệt để làm thức ăn chăn nuôi gia súc hoặc ủ phân tại vườn nhà.

Trên phương diện trình bày trực quan, các chuỗi số liệu phát sinh 4 năm liên tục (2015-2018) và bảng cơ cấu thành phần vật lý có thể được biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng kết hợp biểu đồ tròn phân đoạn. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng lát cắt cơ cấu chất thải, từ đó nhận thấy công nghệ chôn lấp lộ thiên hiện tại ở Tân Lang là không phù hợp vì gây lãng phí tài nguyên khoáng chất trơ và nhựa có thể thu hồi. Đồng thời, mô hình quản lý hiện tại phụ thuộc chủ yếu vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng với 1 cán bộ chuyên trách tại Phòng Tài nguyên và Môi trường đang bộc lộ tình trạng quá tải nhân lực giám sát, thiếu hệ thống trạm trung chuyển đạt chuẩn khiến chi phí vận chuyển đường đèo dốc tăng cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2020-2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách kinh tế môi trường: Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn cần ban hành quy chế bắt buộc phân loại rác tại nguồn giai đoạn 2020-2022, áp dụng biểu phí thu gom rác lũy tiến theo thể tích hoặc khối lượng xả thải nhằm nâng cao trách nhiệm người dân, hướng tới mục tiêu giảm 20% lượng rác hỗn hợp đưa đi xử lý trước năm 2024.
  2. Tối ưu hóa mạng lưới thu gom và vận chuyển: Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng tái thiết kế 8 tuyến thu gom chính, bổ sung 15 xe ép rác chuyên dụng trọng tải 5-7 tấn, xây dựng mới 2 trạm trung chuyển kín đạt chuẩn môi trường tại khu vực cửa ngõ và nâng tỷ lệ thu gom tại các xã ngoại thành Hoàng Đồng, Mai Pha, Quảng Lạc lên trên 92% vào năm 2023.
  3. Chuyển đổi công nghệ xử lý hạn chế chôn lấp: Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn và Sở Tài nguyên và Môi trường cần thu hút đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác công nghệ ủ sinh học kết hợp tái chế hạt nhựa công suất 80-100 tấn/ngày trong giai đoạn 2022-2025, phấn đấu giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp từ mức trên 85% hiện nay xuống dưới 30%.
  4. Đẩy mạnh truyền thông cộng đồng và thanh tra xử phạt: Ủy ban nhân dân 8 xã, phường phối hợp với các tổ dân phố tổ chức chiến dịch phân loại rác tại nguồn cho 100% hộ dân, đồng thời áp dụng nghiêm chế tài xử phạt theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP đối với các hành vi vứt rác bừa bãi xuống lưu vực suối Lao Ly và sông Kỳ Cùng từ quý II năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn, Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Lạng Sơn): Sử dụng hệ thống dữ liệu phát sinh 80,3 tấn/ngày và mô hình dự báo đến năm 2025 làm căn cứ khoa học để xây dựng Đề án quy hoạch quản lý chất thải rắn tổng thể của địa phương.
  • Doanh nghiệp vận hành dịch vụ môi trường đô thị (Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng và các đơn vị công ích đô thị): Khai thác dữ liệu phân tích 8 tuyến thu gom và biểu đồ biến động lượng rác hộ gia đình để lập phương án điều phối phương tiện, tính toán định mức lao động và giảm thiểu tiêu hao nhiên liệu vận tải.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Đô thị học: Tham khảo khung phương pháp luận lấy mẫu điều tra 90 hộ gia đình trong 10 ngày liên tục và phương pháp phân tích thành phần chất thải làm quy chuẩn cho các đề tài nghiên cứu đô thị miền núi.
  • Các tổ chức phát triển xã hội và cộng đồng địa phương: Ứng dụng các chỉ số nhận thức môi trường từ 90 phiếu khảo sát để thiết kế các chương trình truyền thông phân loại rác tại nguồn và mô hình kinh tế tuần hoàn quy mô khu dân cư.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại thành phố Lạng Sơn là bao nhiêu? Theo số liệu nghiên cứu năm 2018, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn thành phố là 80,3 tấn/ngày, tăng 7,7 tấn/ngày so với năm 2015. Trong đó, định mức phát sinh tại 5 phường nội thành đạt 0,84 kg/người/ngày và tại 3 xã ngoại thành đạt 0,56 kg/người/ngày.

Đặc điểm thành phần rác thải sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn có gì khác biệt so với các địa phương khác? Thành phần rác thải tại thành phố Lạng Sơn có tỷ lệ chất thải trơ (đất, cát, sỏi, tro xỉ) chiếm tỷ trọng đặc biệt cao lên tới 68,58% do hoạt động xây dựng đô thị. Chất hữu cơ dễ phân hủy chỉ chiếm 10,34% và nhựa chiếm 9,20%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hữu cơ trên 50% tại các đô thị đồng bằng.

Đơn vị nào hiện đang chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển rác thải tại thành phố? Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn toàn thành phố do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Huy Hoàng đảm nhận dưới sự quản lý, giám sát trực tiếp của Ủy ban nhân dân thành phố Lạng Sơn và Phòng Tài nguyên và Môi trường, với tỷ lệ thu gom bình quân đạt 95%.

Phương pháp lấy mẫu thực địa của đề tài được triển khai với quy mô ra sao? Tác giả đã chọn mẫu 90 hộ gia đình thuộc 8 xã, phường theo 8 tuyến điều tra, trang bị 2 thùng rác phân loại riêng biệt cho mỗi hộ và tiến hành cân đo khối lượng rác thực tế hàng ngày liên tục trong 10 ngày (16/02/2019 - 25/02/2019), ghi nhận mức phát thải từ 0,6 đến 3,8 kg/hộ/ngày.

Dự báo đến năm 2025, lượng rác sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn sẽ thay đổi như thế nào? Dựa trên mô hình gia tăng dân số tự nhiên 0,95%/năm và tốc độ đô thị hóa, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại thành phố Lạng Sơn được dự báo sẽ vượt mốc 95 tấn/ngày vào năm 2025, đòi hỏi phải đầu tư khẩn cấp nhà máy chế biến phân vi sinh để tránh quá tải bãi chôn lấp.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập bức tranh khoa học toàn diện về thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Lạng Sơn với tổng khối lượng 80,3 tấn/ngày và tỷ lệ thu gom bình quân đạt 95%.
  • Phát hiện đặc thù thành phần chất thải rắn với tỷ lệ chất thải trơ chiếm áp đảo 68,58% và chất hữu cơ chiếm 10,34%, chỉ rõ sự cấp thiết phải thay đổi công nghệ xử lý từ chôn lấp sang tái chế và sản xuất phân compost.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm có giá trị cao thông qua quá trình điều tra, cân đo trực tiếp 90 hộ dân trong 10 ngày và mô hình dự báo tải lượng rác đến năm 2025.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về chính sách, hạ tầng thu gom, công nghệ xử lý và truyền thông cộng đồng với lộ trình thực hiện cụ thể giai đoạn 2020-2025.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền tỉnh Lạng Sơn và các nhà đầu tư khẩn trương xã hội hóa nguồn vốn nhằm hiện đại hóa hạ tầng môi trường, bảo vệ cảnh quan đô thị biên giới phát triển bền vững.