Đặt vấn đề Thái Nguyên là thành phố thuộc vùng Trung du - Miền núi Bắc bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, Phía bắc giáp Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. Diện tích tự nhiên toàn TP là 3526,64 km2 dân số trung bình đến năm 2016 là 1.580 nghìn người. Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giao dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng. Đây là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.
Sự giao lưu được thực hiện thông qua hệ thống đường bộ đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Tọa độ địa lý nằm 20020’đến 22025’vĩ độ Bắc; 105025’đến 106016’ kinh độ Đông. Thái Nguyên là nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn. Thái Nguyên là TP có diện tích tự nhiên 3.526,215 km2 có địa hình đa dạng: phía Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc có nhiều dãy núi cao,ở phía Nam có có địa hình gò đồi và đồng bằng tương đối bằng phẳng.
Trên địa bàn thành phố, tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng: nhiều mỏ kim loại màu, kim loại đen, mỏ than, mỏ đá, mỏ sét đang được khai thác hoặc sẽ được khai thác trong tương lai; diện tích rừng chiếm đến 40% tổng diện tích tự nhiên, vốn là vùng có tài nguyên sinh vật phong phú với các hệ sinh thái cạn, hệ sinh thái nước đa dạng, là nguồn cung cấp thực phẩm, vật liệu xây dựng cho nhân dân địa phương và có giá trị lớn về bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết khí hậu, bảo vệ nguồn nước, kiểm soát lũ. Luan van 2 Trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế của thành phố Thái Nguyên luôn ở mức độ cao. Nhưng cùng với quá trình phát triển công nghiệp, khai khoáng, đô thị, nông, ngư nghiệp và gia tăng dân số ở Thái Nguyên trong thời gian qua đã gây gia tăng ô nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường đất, nước, không khí, đa dạng sinh học, tài nguyên đất, nước, khoáng sản.Do đó việc theo dõi, tổng hợp, phân tích, báo cáo và công bố các chỉ tiêu cơ bản phản ánh bản chất và diễn biến của các vấn đề môi trường là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên dưới sự hướng dẫn của thầy ThS.
Hoàng Quý Nhân em xin đề xuất nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các chỉ tiêu môi trường cơ bản và xây dựng bộ chỉ thị môi trường thành phố Thái Nguyên theo thông tư 43/2015/BTNMT giai đoạn 2018-2020”.Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Thông qua các hoạt động nghiên cứu, điều tra và thu thập thập thông tin nhằm theo dõi, đánh giá diễn biến chất lượng môi trường cũng như phục vụ công tác lập báo cáo và xây dựng Bộ chỉ thị môi trường cho thành phố. Đánh giá được các chỉ tiêu môi trường trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường của thành phố 1. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu các chỉ tiêu cơ bản phản ánh bản chất và diễn biến các vấn đề môi trường theo không gian và thời gian trên địa bàn thành phố.
Xây dựng BCT môi trường trên cơ sở đảm bảo các chỉ thị môi trường phản ánh các yếu tố đặc trưng của môi trường để phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố cũng như đảm bảo quy định của luật bảo vệ môi trường. Đề xuất các giải pháp, cách thức tổ chức, thời gian và kinh phí thực hiện trong quá trình xây dựng BCT môi trường.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Xây dựng BCT môi trường phục vụ đánh giá hiện trạng môi trường. BCT môi trường được xem là nguồn cơ sở dữ liệu để xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường.
Giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thông tin đánh giá tổng hợp hiện trạng môi trường của địa phương trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và môi trường một cách bền vững. Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá được hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường trên địa bàn thành phố. Qua các kết quả nghiên cứu và tài tiệu thu thập được xác định các động lực chi phối trong môi trường. Đưa ra được các biện pháp và đề xuất kinh phí phù hợp nhằm hạn chế được các tác nhân xấu gây ảnh hưởng đến môi trường cũng như để nhằm cải thiện môi trường đạt hiệu quả tốt nhất trong quá trình xây dựng BCT.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu Bộ chỉ thị môi trường và mô hình DPSIR 2. Một số khái niệm về Bộ chỉ thị môi trường Chỉ thị môi trường là cơ sở để lượng hóa chất lượng môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành bộ chỉ thị môi trường quốc gia để áp dụng trong cả nước.
Nhiều chỉ thị môi trường hợp lại thành một BCT môi trường của một nước, hoặc một vùng, một địa phương. Tổng quan về hệ thống thống kê thông tin quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố Thái Nguyên Khái niệm hệ thống quản lý môi trường: Thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính: Quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường. Trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất. Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên.
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục, v. Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra. Việc Luan van 5 quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, TP, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, v. Mục tiêu cơ bản của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay là: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu vực công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.
Nội dung và chức năng của quản lý nhà nước về môi trường: Hoạt động bảo vệ môi trường trong thời đại chúng ta là một trong những hoạt động quan trọng của xã hội loài người, nhằm duy trì và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên môi trường cho sự phát triển nhân loại. Nhà nước với tư cách đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội sử dụng sức mạnh quyền lực và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đường lối chủ đạo (phát triển bền vững) của mình thành hiện thực thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý (Cơ cấu kinh tế xã hội và hệ thống tổ chức quyền lực quản lý môi trường); một cơ chế sử dụng nhân lực hữu hiệu (đội ngũ công chức môi trường và công chức chính quyền khác); với các phương pháp, hình thức, giải pháp quản lý thích hợp (các công cụ quản lý, chính sách quản lý, các giải pháp quản lý); tạo ra và tận dụng các thời cơ, các quan hệ quốc tế để phát triển bền vững đất nước [5].Giới thiệu về mô hình DPSIR Một chỉ thị là một thông số được sử dụng để đơn giản hoá, lượng hoá và truyền đạt một vấn đề. Trong lĩnh vực môi trường, một lĩnh vực vô cùng phức tạp, rõ ràng cần phải xác định các chỉ thị để có thể định lượng các khía cạnh quan trọng của môi trường nhằm đơn giản hoá những khía cạnh này. Luan van 6 Theo đó, bạn có thể truyền đạt những thông tin môi trường đối với mọi đối tượng và cung cấp thông tin để lập báo cáo hiện trạng môi trường.
Rõ ràng là càng áp dụng nhiều chỉ thị (với chất lượng ở mức chấp nhận được), ta càng có khả năng mô tả chi tiết hơn về các diễn biến của môi trường. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh nhất định, mà việc áp dụng quá nhiều các chỉ thị sẽ có thể làm cho bức tranh trở nên rối mắt trong khi cái đang cần là một bức tranh tổng quát. Mô hình DPSIR được lựa chọn làm mô hình định hướng cho hoạt động xây dựng chỉ thị môi trường. Mô hình này rất mạnh trong việc cung cấp một cái nhìn tổng quan bối cảnh vấn đề môi trường và cũng như minh họa và làm rõ những mối quan hệ nhân - quả nói chung.
Những mối quan hệ nhân - quả này thường mang tính khái niệm và về bản chất mang tính định tính chứ không phải được xác định bằng phương trình toán học. Mối quan hệ nhân - quả này có thể được nhiều người biết tới nhưng lại khó có thể định lượng được. Chỉ có rất ít trường hợp cụ thể mà trong đó có thể xác định được một tập hợp các phương trình toán học có thể xâu chuỗi/ liên hệ được các yếu tố/thành phần với nhau để mô tả toàn cảnh theo mô hình DPSIR.1: Quá trình phát triển từ S đến DPSIR Phương pháp Đánh giá Tổng hợp DPSIR (mô hình DPSIR) do tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999, là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả: Nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và Luan van 7 các biện pháp ứng phó cần thiết.