CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học về quản lý môi trường 1.1 Các khái niệm chung về quản lý môi trường - Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. - Khái niệm quản lý môi trường dựa vào cộng đồng: Là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó. Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực. Và đồng thời quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư.2 Các công cụ dùng để quản lý môi trường 1.1 Quản lý môi trường bằng pháp luật Pháp luật là một công cụ được nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội trong đó có những vấn đề liên quan đến môi trường.
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: - Chức năng điều chỉnh; - Chức năng bảo vệ ; - Chức năng tác động vào ý thức con người bằng giáo dục. Quản lý môi trường là một vấn đề rộng có phạm vi toàn cầu. Do đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không chỉ là luật, các văn bản quy phạm pháp luật trong nước mà còn là công ước, pháp luật quốc tế liên quan 14 n đến bảo vệ môi trường. Đây là những công cụ để Nhà nước kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường thống nhất trong toàn quốc.
Mỗi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm điều chỉnh mọi hành vi của mình trong quá trình sản xuất và tiêu dùng.2 Quản lý môi trường bằng kinh tế Công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường như thuế, phí để bồi hoàn chi phí tái tạo môi trường do người tiêu dùng và các nhà sản xuất gây ra ô nhiễm. Bản chất của công cụ kinh tế được các cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng là dùng kinh tế để điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức gây ô nhiễm, sử dụng nguồn vốn này để tái tạo lại hoặc sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công cộng nhất định cho cộng đồng. Thuế và phí ô nhiễm làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên làm thay đổi thói quen sử dụng của người sản xuất và người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa và dịch vụ gây nhiều ô nhiễm. Công cụ kinh tế được dùng phổ biến hiện nay là: - Thuế môi trường hoặc các loại phí khác; - Giấy phép buôn bán được {chỉ tiêu( cota) môi trường}; - Các hệ thống đặt cọc-hoàn trả.3 Quản lý môi trường bằng công cụ quy hoạch Quy hoạch môi trường là một công cụ quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với mục đích là điều hòa sự phát triển của hệ thống Môi trường - Kinh tế - Xã hội đang tồn tại và hoạt động đảm bảo cho sự phát triển của hệ thống kinh tế xã hội phù hợp trong khả năng chịu đựng của hệ thống tự nhiên, bảo vệ được môi trường sống và làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn.
Quy hoạch môi trường là sắp xếp, tổ chức không gian và sử dụng các thành phần môi trường và các yếu tố tài nguyên phù hợp với chức năng môi 15 n trường và điều kiện thiên nhiên, kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ theo định hướng bền vững.4 Các yêu cầu về quản lý rác thải nông thôn Nâng cao nhận thức người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc quản lý rác thải nông thôn. Đây là cơ sở quan trọng nhất góp phần nâng cao chất lượng môi trường nông thôn. Hiện nay, phần lớn cư dân sống ở nông thôn còn thiếu hiểu biết, xem nhẹ coi thường vấn đề quản lý rác thải nông thôn. Chính vì thế họ đang từng ngày sống chung với rác thải, với các nguy cơ gây hại từ rác thải.
Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục, tuyên truyền có tầm quan trọng lớn đối với việc quản lý rác thải nông thôn. Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới địa phương, gắn liền với các tổ chức cộng đồng phục vụ cho lĩnh vực này tăng cường hiệu lực của quản lý nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và xắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về công tác quản lý rác thải nông thôn. Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để đầu tư xử lý rác thải: Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí.
Quản lý rác thải nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khỏe, giảm thiểu các bệnh tật do ô nhiễm môi trường. Đây là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy cần xã hội hóa công tác quản lý rác thải, đặc biệt ở khu vực nông thôn.3 Cơ sở khoa học về chất thải Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9 tháng 4 2007 về quản lý chất thải rắn. + Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
+ Chất thải rắn sinh hoạt: chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. + Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác. + Hoạt động quản lý chất thải rắn: bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người. + Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
+ Lưu giữ chất thải rắn: là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến cơ sở xử lý. + Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng. + Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn. + Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với 17 n các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
+ Phân loại rác tại nguồn: là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau. + Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người. Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001)[25].
+ Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [26]. - Tái chế chất thải: thực chất là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2003)[27].1 Phân loại chất thải rắn Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác nhau.
Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây: - Phân loại theo nguồn gốc phát sinh: 18 n + Chất thải công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ các quá trình sản xuất, các sản phẩm phế thải của các hoạt động công nghiệp trong các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp tập trung + Chất thải sinh hoạt: là chất thải rắn được sản sinh ra trong sinh hoạt hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các Trung Tâm dịch vụ thương mại. + Chất thải có nguồn gốc khác: chất thải rắn nông nghiệp, chất thải rắn làng nghề, chất thải rắn thương mại du lịch. Nhà dân, Cơ quan, trường Nơi vui chơi, khu dân cư học giải trí Bệnh viện, Dịch vụ, cơ sở y tế thương mại, Chất thải rắn xe, nhà ga Khu công Giao thông, Nông nghiệp, nghiệp, nhà xây dựng hoạt động xử lý máy, xí nghiệp rác thải Hình1.