CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1.1 Tình hình dân cư kinh tế xã hội xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn Huyện Hóc Môn nằm ở ngoại thành phía Tây Bắc của TP. Theo thống kê vào ngày 31 tháng 12 năm 2021, dân số hiện nay của huyện Hóc Môn là 593 275 người [1].Tại huyện Hóc Môn, người Kinh chiếm trên 90% dân số, còn lại là người Hoa và người Khơme Xã Thới Tam Thôn là một xã của huyện Hóc Môn, cách trung tâm hành chính huyện Hóc Môn khoảng 2km. Phía Bắc giáp xã Tân Hiệp ngăn cách bởi rạch Hóc Môn (sông Rạch Tra). Phía Đông giáp xã Đông Thạnh.
Phía Nam giáp xã Trung Chánh và phường Tân Chánh Hiệp, phường Hiệp Thành (quận 12). Phía Tây giáp xã Tân Xuân và thị trấn Hóc Môn [2]. Hiện nay trên địa bàn xã có 11. Trong đó, dân cư phần lớn là người nhập cư, phân bố không đều, chủ yếu tập trung dọc theo các tuyến đường chính của xã hình thành các điểm, các khu dân cư tập trung.
Nhân khẩu tạm trú chiếm 48,36% [2]. Xã Thới Tam Thôn được chia làm 13 ấp gồm: ấp Nam Thới, Thới Tứ, Thới Tứ 1, Thới Tứ 2, Trung Đông, Trung Đông 1, Trung Đông 2, Tam Đông, Tam Đông 1, Tam Đông 2, Tam Đông 3, Đông và Đông 1. Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 893,68 ha. Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 520 ha, chiếm khoảng 58,1% diện tích đất tự nhiên của xã, bao gồm: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 515 ha, chiếm khoảng 99,04% diện tích đất nông nghiệp.
Xã hiện nay không có đất trồng lúa. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu được sử dụng để trồng các cây hàng năm (chiếm 97,62% diện tích đất nông nghiệp). Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 1,47 ha, chiếm 0,44% diện tích đất nông nghiệp [2]. Tổng số người trong độ tuổi lao động (không tính số người không tham gia hoạt động kinh tế) là 26.720 người, trong đó nữ là 11.004 người, tỷ lệ 41,18% [2].
Xã Thới Tam Thôn là khu vực ở gần trung tâm của huyện Hóc Môn, có tốc độ phát triển nhanh. Lựa chọn xã Thới Tam Thôn là địa điểm nghiên cứu do dây là khu vực đang phát 6 triển, đại diện cho sự phát triển của đô thị, tiếp giáp khu vực đô thị hóa và đủ các điểm phát triển công nghiệp và thiểu thủ công nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ và các đoàn thể khác phân bố đều và có sự theo dõi, hỗ trợ từ phía các tổ chức. Nghiên cứu lựa chọn xã Thới Tam Thôn làm địa điểm nghiên cứu để dễ nhân rộng mô hình cho các vùng lân cận và cả huyện Hóc Môn.2 Những văn bản pháp lý quy định thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Hóc Môn Tại Hóc Môn lượng CTRSH phát sinh năm 2022 là 180.
Toàn bộ CTRSH được thu gom trung chuyển và xử lý tại Nhà máy xử lý rác Củ Chi. Toàn bộ kinh phí vận chuyển là hơn 18 tỷ đồng/năm. Trong đó, Ngân sach Nhà nước chi trả hơn 12 tỷ đồng. Nhằm triển khai các quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Quyết định số 5827/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2022 về Ban hành giá dịch vụ thu gom tại nguồn, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn năm 2023 [3].
Cụ thể như sau: - Đối với hộ gia đình là 64.000 đồng tháng (trong đó, giá thu gom: 46.000 đồng, giá vận chuyển: 18.000 đồng), giá trên đã trừ 12.000 đồng giá vận chuyển được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ. - Đối với Chủ nguồn thải là các đơn vị, các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh (không phân biệt ngành nghề kinh doanh và kể cả hộ gia đình) thì được phân thành 04 nhóm và tính giá theo khối lượng CTRSH phát sinh, cụ thể: + Nhóm 1 (từ 120 kg/tháng đến dưới 220 kg/tháng, trung bình 170 kg/tháng): Thanh toán 92.000 đồng/ tháng (trong đó, giá thu gom: 66.000 đồng, giá vận chuyển: 26.000 đồng), giá trên đã trừ 16.000 đồng giá vận chuyển được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ [3]. + Nhóm 2 (từ 220 kg/tháng đến dưới 320 kg/tháng, trung bình 270 kg/tháng): Thanh toán 145.000 đồng/ tháng (trong đó, giá thu gom: 105.000 đồng, giá vận chuyển: 40.000 đồng), giá trên đã trừ 27.000 đồng giá vận chuyển được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ [3]. 7 + Nhóm 3 (từ 320 kg/tháng đến 420 kg/tháng, trung bình 370 kg/tháng): Thanh toán 198.000 đồng/ tháng (trong đó, giá thu gom: 143.000 đồng, giá vận chuyển: 55.000 đồng), giá trên đã trừ 37.000 đồng giá vận chuyển được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ [3].
Giá trên chưa bao gồm chi phí xử lý, chi phí dịch vụ thu gom chất thải rắn cồng kềnh, chất thải nguy hại, chất thải xà bần, chất thải khác. Thời gian áp dụng quy định này là từ ngày 01/01/2023. Bên cạnh đó, nội dung triển khai cũng quy định rõ trách nhiệm của Hộ gia đình và chủ nguồn thải cũng như trách nhiệm của đơn vị thu gom, vận chuyển: Trách nhiệm của Hộ gia đình và chủ nguồn thải: Phân loại, lưu trữ, chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt và thanh toán giá dịch vụ thu gom tại nguồn, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt cho đơn vị thu gom theo quy định. Trách nhiệm của đơn vị thu gom, đơn vị vận chuyển: Có trách nhiệm ký hợp đồng thu gom và vận chuyển CTRSH với chủ nguồn thải, xuất hóa đơn tài chính theo quy định.
Đối với các hộ gia đình, chủ nguồn thải không chấp hành chi trả giá dịch vụ thu gom tại nguồn, giá vận chuyển CTRSH theo quy định sẽ bị xử lý như sau: Xử lý vi phạm hành chính với hành vi không chấp hành quy định pháp luật trong việc lưu trữ, thu gom, vận chuyển CTRSH tại nguồn quy định tại điểm a Khoản 8 Điều 26 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 07/7/2022 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT với hình thức phạt tiền từ 2. 8 Đồng thời thông tin Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại cuộc họp Tổ dân phố theo quy định tại Điều 72 Nghị định số 45/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT và đề xuất không công nhận gia đình văn hóa của năm [3].2 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 1.1 Khái niệm và phân loại CTRSH Theo Luật BVMT năm 2020, chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải [1]. Chất thải rắn sinh hoạt là các loại chất thải ở dạng rắn phát sinh từ hoạt động ở hộ gia đình, khu dân cư, khu đô thị. Chính phủ Việt Nam (2015) quy định phân loại chất thải sinh hoạt là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau.
CTRSH được phân loại tại nguồn phù hợp với mục đích quản lý, xử lý thành các nhóm như: chất thải thực phẩm (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác bã động vật); nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế(nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao su, ni lông, thủy tinh) và nhóm còn lại. Việc phân loại CTRSH phải được hộ gia đình chấp hành theo quy định, bảo đảm yêu cầu thuận lợi cho thu gom, vận chuyển và xử lý [1]. CTRSH được phân loại tại nguồn có thể theo các nhóm trên hoặc các nhóm theo tiêu chí phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cụ thể của mỗi địa phương. Chẳng hạn, theo Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ (2018) CTRSH được phân thành ba nhóm gồm nhóm đốt được, nhóm không đốt được và nhóm nguy hại nhằm bảo đảm yêu cầu thuận lợi cho hoạt động xử lý chất thải rắn theo phương pháp xử lý thiêu đốt [4].
Trong khi đó, tỉnh Bến Tre triển khai thí điểm mô hình phân loại tại nguồn phần phế liệu, phần hữu cơ và còn lại [5].2 Các tính chất của CTRSH Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt: CTRSH ảnh hưởng đến môi trường nước, đất, không khí thông qua sự phân hủy các vi sinh vật. Ngoài ra, sức khỏe của những lao động thu gom, của cộng đồng dân cư bị phơi nhiễm cũng chịu tác động tiềm ẩn do thành phần phức tạp của CTRSH. Các tính chất đặc trưng của CTR bao gồm: khối lượng riêng, độ ẩm, thành phần nguyên tố, nhiệt trị của CTR đô thị. Các thông số này được tính toán trên cơ sở các tính chất đặc trưng của từng thành phần trong hỗn hợp CTR phát sinh ở các bãi rác trong từng trường hợp cụ thể.3 Tình hình ô nhiễm CTRSH tại TP.HCM Theo thống kê của Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP.HCM, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày của TP.
Đặc biệt trong những ngày Lễ, Tết Nguyên Đán, lượng rác thải phát sinh hơn 11. Với tốc độ tăng khối lượng khoảng 6 - 8% năm, CTRSH đang là mối quan tâm lớn nhất với nhiều hiểm họa về môi trường [7]. Hiện nay, hoạt động của các công trình xử lý, tái chế CTR sinh hoạt hiện tại (bãi chôn lấp hợp vệ sinh, chế biến compost, tái chế từng thành phần riêng biệt) còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa cao do chất thải chưa được phân loại tại nguồn. Hơn nữa, nguồn rác thải còn bao gồm cả chất thải nguy hại từ sinh hoạt hàng ngày của con người.
Cho đến nay, các số liệu nghiên cứu về thành phần CTR sinh hoạt từ các nguồn phát sinh khác nhau trên địa bàn TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung vẫn còn hạn chế và không liên tục. Số liệu đầu tiên về thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM do Trung tâm CENTEMA thực hiện năm 1995 - 1997 và được lặp lại vào năm 2008 [7].4 Hiện trạng phân loại CTRSH tại TP.HCM Hiện nay, tại TP.HCM có 7 nguồn xả thải chất thải rắn, bao gồm: 1. Hộ gia đình; 2. Khách sạn, nhà nghỉ và nhà hàng; 3.
Các nhà máy và cơ sở sản xuất; 4. Khu vực công cộng và 7. Chợ và các điểm kinh doanh dịch vụ [8]. Có 3 chủ nguồn thải lớn là từ hộ gia đình (42%), các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thương mại (40,5%) và còn lại là từ đường phố, kênh rạch, công viên [9].
Hiện nay tại TP.HCM đang tiến hành phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn theo Quyết định số 44/2018/QĐ-UBND ngày 14/11/2018 của UBND TP.