Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngành Khoa học Môi trường với đề tài "Giải pháp quản lý rác thải nhựa sinh hoạt khu vực nông thôn tỉnh Thái Bình (cũ)" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Dương Thị Phương Anh tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hà và TS. Nguyễn Trung Thắng. Luận án thuộc chuyên ngành Môi trường và phát triển bền vững, mã số đào tạo 9440301.04.

Về tính cấp thiết, ô nhiễm chất thải nhựa (CTN) đang là thách thức môi trường quy mô lớn. Ước tính có khoảng 80% CTN bắt nguồn từ các hoạt động trên đất liền và 20% phát sinh từ các hoạt động trên biển, hàng năm có khoảng 13 triệu tấn CTN đổ ra đại dương, gây tổn thất hệ sinh thái biển tối thiểu 13 tỷ USD mỗi năm. Tại khu vực nông thôn ở các quốc gia đang phát triển, dịch vụ thu gom và cơ sở hạ tầng quản lý chất thải rắn (CTR) còn thiếu đồng bộ; ở các nước thu nhập thấp, chỉ 26% chất thải nông thôn được thu gom, trong khi 93% chất thải bị đổ bừa bãi hoặc đốt ngoài trời. Ở Việt Nam, trên 61% dân số sống tại nông thôn. Tỉnh Thái Bình (cũ) có tỷ lệ dân số nông thôn đạt gần 90% và có dải bờ biển tiếp nhận lượng rác thải lớn, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) và CTN đang đối mặt với tình trạng quá tải tại các lò đốt rác địa phương (như tại các xã Thụy Xuân, Thụy Hải, Thụy Dũng). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu về CTRSH nông thôn đã được thực hiện khá nhiều, nhưng mảng quản lý chuyên biệt đối với CTN sinh hoạt nông thôn, đặc biệt là việc xác định hệ số phát sinh thực nghiệm, đặc tính polymer và đề xuất hệ thống giải pháp gắn với bối cảnh chuyển đổi tổ chức hành chính còn thiếu hụt và chưa được giải quyết đầy đủ.

Luận điểm nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  • CTN phát sinh trong sinh hoạt ở khu vực nông thôn tỉnh Thái Bình (cũ) tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đối với khu vực và nhiều rủi ro cho sức khỏe người dân.
  • Các giải pháp quản lý CTN phát sinh trong sinh hoạt ở khu vực nông thôn đề xuất phải căn cứ trên hiện trạng phát sinh và quản lý CTN, phù hợp đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, phù hợp với bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hướng tới nền kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định:

  1. Đánh giá được hiện trạng phát sinh, các yếu tố ảnh hưởng và công tác quản lý CTN sinh hoạt tại khu vực nông thôn tỉnh Thái Bình (cũ).
  2. Đề xuất các giải pháp quản lý CTN phát sinh từ sinh hoạt ở khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình (cũ); đánh giá tính khả thi, mức độ ưu tiên và lựa chọn các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Khu vực nghiên cứu có những đặc trưng gì liên quan tới phát sinh CTN từ sinh hoạt (hệ số phát sinh, tỷ lệ CTN trong CTRSH, thành phần và các yếu tố ảnh hưởng)?
  2. Hiện trạng công tác quản lý CTN trong sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu như thế nào?
  3. Những giải pháp nào phù hợp, có tính khả thi và cần ưu tiên triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTN tại khu vực nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và định hướng kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: CTN phát sinh trong sinh hoạt của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn và các giải pháp quản lý, xử lý, tận dụng CTN theo hướng kinh tế tuần hoàn.
  • Phạm vi không gian: Khu vực nông thôn tỉnh Thái Bình (cũ). Luận án khảo sát sâu và lấy mẫu thực địa tại 4 xã: Thái Đô, Thụy Hải (thuộc huyện ven biển Thái Thụy) và Vũ Ninh, Vũ Quý (thuộc huyện Kiến Xương). Các giải pháp đề xuất được xây dựng có xét đến bối cảnh sau ngày 01/7/2025, khi thực hiện sáp nhập tỉnh Thái Bình vào tỉnh Hưng Yên (mới) và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (bỏ cấp huyện).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa và lấy mẫu CTN tiến hành trong năm 2023. Số liệu tự nhiên, kinh tế - xã hội và quản lý cập nhật từ 2023 đến 2025.
  • Giới hạn khoa học: Luận án tập trung vào CTN phát sinh từ sinh hoạt hộ gia đình nông thôn; đối tượng nghiên cứu không bao gồm hạt vi nhựa; không bao gồm CTN phát sinh từ chợ và trung tâm thương mại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm nội dung về lượng hóa phát sinh, thành phần vật liệu và giải pháp quản lý CTN:

Ở quy mô toàn cầu, việc đánh giá lượng phát sinh CTN dựa trên phân tích dòng vật liệu (MFA) và đánh giá vòng đời (LCA) được áp dụng trong mô hình ENV-Linkages của OECD (2022, 2024), cho thấy lượng CTN tăng từ 156 triệu tấn (năm 2000) lên 353 triệu tấn (năm 2019) và 400 triệu tấn (năm 2024), trong đó chỉ 9% được tái chế. Nghiên cứu của Geyer, Jambeck và Law (2017) xác định giai đoạn 1950–2015 toàn cầu sản xuất 8.300 triệu tấn nhựa nguyên sinh và tạo ra 6.300 triệu tấn CTN, dự báo chạm mốc 12.000 triệu tấn vào năm 2050 nếu giữ nguyên xu hướng. Tại Sri Lanka, bộ công cụ MFA theo Công ước Basel ước tính mỗi năm quốc gia này tạo ra 250.000 tấn CTN và rò rỉ ra biển khoảng 40.000 tấn. Về hệ số phát sinh rác thải nông thôn, Mihai và cộng sự (2014) tính toán mức phát sinh tại các xã ở Rumani dao động từ 0,28 đến 0,8 kg/người.ngày tùy vào tỷ lệ tiếp cận dịch vụ thu gom; Ciuta và cộng sự chỉ ra hệ số CTRSH nông thôn đạt 0,4 kg/người.ngày với tỷ lệ nhựa 5,16%, thấp hơn khu vực đô thị (0,9 kg/người.ngày và 16,51% nhựa). Nxumalo và cộng sự (2020) khảo sát tại Eswatini ghi nhận lượng thải trung bình là 15,9 g CTN/ngày.

Về ảnh hưởng môi trường và sức khỏe, nghiên cứu của Eriksen và cộng sự, Baca và cộng sự (2023) chỉ ra việc đốt hở CTN phát thải chất độc dioxin và furan; Leonard và cộng sự (2024), Li (2024) phát hiện vi nhựa trong hệ tuần hoàn máu và mô người; báo cáo của WHO (2022) và Lane, Koelmans, Wardani (2025) nhấn mạnh sự thiếu hụt dữ liệu định lượng dài hạn về ngưỡng liều - phản ứng của vi nhựa đối với cơ thể người.

Tại Việt Nam, báo cáo của WWF-Việt Nam (2023) xác định lượng CTN phát sinh trên đất liền khoảng 2,8–3,1 triệu tấn/năm; riêng tỉnh Thái Bình (cũ) ghi nhận hệ số phát sinh CTN năm 2021 là 23 kg/người.năm, tỷ lệ CTN trong CTRSH chiếm 17%. Khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB, 2020–2021) trên 5 lưu vực sông và 14 vị trí ven biển cho thấy CTN chiếm 94% tổng số lượng và 71% khối lượng CTR trôi nổi. Một số nghiên cứu điển hình về hệ số phát sinh và tỷ lệ CTN tại Việt Nam được luận án đối chiếu:

Tác giả, công trình Địa bàn nghiên cứu Hệ số phát sinh Tỷ lệ CTN trong CTRSH
WWF-Việt Nam (2023) Tỉnh Thái Bình (cũ) 23 kg/người.năm 17%
Trịnh Văn Hoàng và cs (2021) Thanh Hà, Hải Dương (cũ) 0,047–0,049 kg CTN/người.ngày -
Hoàng Thị Huê và cs (2020) Hoài Đức, Hà Nội 0,04–0,05 kg CTN/người.ngày -
Bùi Thị Thu Trang, Hoàng Thị Huê (2023) Hải Hậu, Nam Định 0,53 kg CTRSH/người.ngày -
Đào Văn Hiền và cs (2021) Thượng Cát, Bắc Từ Liêm, Hà Nội - 13,5% (khu dân cư: 10,6%)
Nguyễn Thanh Giao (2020) Long Trị A, Châu Thành, Hậu Giang - Túi ni lông chiếm 4,7–7,1%; chai nhựa 87,7–92% trong nhóm rác dùng 1 lần
Trần Việt Hùng và cs (2020) Tiền Hải, Thái Bình (cũ) 0,50–0,82 kg CTRSH/người.ngày Túi ni lông chiếm 8–11%
Phạm Thị Tố Oanh (2020) Đông Hưng, Thái Bình (cũ) 0,53–0,61 kg CTRSH/người.ngày CTR vô cơ chiếm 45–51%

Về các giải pháp quản lý, các tài liệu quốc tế của Akenji và cộng sự (2020), UNEP (2023), Nyika và Onyari (2021), Wang và cộng sự (2018) nhấn mạnh cách tiếp cận quản lý chất thải tổng hợp (QLTHCTR), phân cấp trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và phát triển mô hình ngân hàng rác thải (như tại Jakarta, Indonesia). Tại Việt Nam, Nguyễn Song Tùng (2023), Nguyễn Thị Thu Hà (2021), Viện Kinh tế tuần hoàn (2021), Phạm Thị Thanh Bình và cộng sự (2022, ứng dụng phương pháp Takakura tại Thanh Hóa) đã đề xuất hoàn thiện định mức kinh tế kỹ thuật và cơ chế khuyến khích tái chế.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình tại Thái Bình trước đây chỉ đánh giá hiện trạng phát sinh chung cho toàn bộ CTRSH ở quy mô cấp huyện, chưa đi sâu tách lọc định lượng riêng dòng CTN sinh hoạt hộ gia đình nông thôn; chưa sử dụng phương pháp phân tích thiết bị để nhận diện bản chất polymer của các loại rác thải; và chưa xây dựng danh mục giải pháp quản lý có tích hợp các công cụ phân tích DPSIR, SWOT, phân tích chi phí - lợi ích trong bối cảnh thay đổi cơ cấu đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các khái niệm và khung lý thuyết:

  • Khái niệm nhựa và phân loại: Nhựa nhiệt dẻo (PE, PP, PET, PVC, PS) có khả năng định hình lại nhiều lần dưới tác dụng nhiệt; nhựa nhiệt rắn (PUR, epoxy) không thể đúc lại sau khi định hình. Hệ thống mã nhận dạng nhựa (RIC) từ 1 đến 7 theo tiêu chuẩn ASTM D7611 được sử dụng để phân loại khả năng tái chế thành ba nhóm: tái chế rộng rãi (PET, HDPE), tái chế hạn chế (LDPE, PP) và không tái chế phổ biến (PVC, PS, các loại khác).
  • Luật Bảo vệ môi trường 2020: Căn cứ Khoản 1 Điều 75 về phân loại CTRSH thành 3 dòng chính: CTR có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; và CTRSH khác.
  • Thang bậc quản lý chất thải và kinh tế tuần hoàn: Mô hình phân cấp quản lý theo thứ tự: Phòng ngừa – Giảm thiểu – Tái sử dụng – Tái chế – Thu hồi năng lượng – Chôn lấp.
  • Ba cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận hệ thống; tiếp cận kết hợp từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up); tiếp cận dựa vào cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp tổng quan, phân tích thông tin, số liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch quản lý chất thải rắn của tỉnh Thái Bình (cũ), các công trình nghiên cứu đã xuất bản.
  • Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Tập huấn cho trưởng thôn và các hộ gia đình; sử dụng bảng hỏi điều tra xã hội học nhằm khảo sát hành vi sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, thói quen phân loại, nhận thức tác hại của CTN tại 4 xã nghiên cứu.
  • Phương pháp lấy mẫu, phân loại và phân tích mẫu CTN:
    • Lấy mẫu trực tiếp tại hộ gia đình: Các hộ dân thu gom rác nhựa riêng theo từng ngày, tiến hành cân đo khối lượng phát sinh hàng ngày để xác định hệ số phát sinh.
    • Lấy mẫu tại bãi xử lý CTR tập trung của các xã: Phân loại cơ học và xác định tỷ trọng các nhóm nhựa.
    • Phân tích đặc tính hóa học: Tiền xử lý mẫu nhựa và đo phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) kết hợp kỹ thuật phản xạ toàn phần suy giảm (ATR) tại Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong phát triển xanh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, đối chiếu với thư viện phổ chuẩn để nhận diện polymer và các thành phần phụ gia trong mẫu nhựa đa thành phần.
  • Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu và mô hình hóa:
    • Công thức tính hệ số phát sinh bình quân: $I_g = \frac{\sum M_{CTN}}{\sum P}$ (kg/người.ngày).
    • Mô hình Euler cải tiến dùng để dự báo dân số và khối lượng phát sinh rác thải đến năm 2030: $N^*_{i+1} = N_i + r \cdot N_i \cdot \Delta t$ $M = I \cdot N$ (trong đó $N$ là dân số, $r$ là tỷ lệ tăng trưởng, $I$ là lượng phát sinh bình quân, $M$ là khối lượng CTR phát sinh).
  • Bộ công cụ phân tích quản lý: Tích hợp mô hình DPSIR (Động lực – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Giải pháp phản hồi), ma trận SWOT (Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức) và phương pháp nhận diện chi phí – lợi ích (CBA) đối với các nhóm giải pháp đề xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về CTN, CTRSH theo quy định pháp lý hiện hành (Luật BVMT 2020) và các hiệp ước quốc tế (UNEA-5, Basel, Stockholm). Tác giả tổng kết toàn diện các nguồn số liệu phát sinh CTN toàn cầu từ báo cáo của OECD, ISWA, UNEP và số liệu tại các tỉnh thành Việt Nam. Chương này phân tích chi tiết tác động đa chiều của CTN và vi nhựa đối với hệ sinh thái đất, chuỗi thức ăn thủy sản và sức khỏe con người, đồng thời phân tích cơ chế phân mảnh vật liệu và rò rỉ hóa chất độc hại khi đốt rác lộ thiên (như dioxin, furan). Đánh giá tổng quan các kinh nghiệm quản lý quốc tế (mô hình ngân hàng rác thải tại Indonesia, hệ thống thu gom phi tập trung tại Châu Phi, chính sách phân loại nguồn tại Bulgaria) và phân tích các nghiên cứu tiền đề tại tỉnh Thái Bình (cũ) ở các huyện Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ.

Chương 2. Địa điểm, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu tại 4 xã đại diện của tỉnh Thái Bình (cũ): xã Thái Đô và xã Thụy Hải thuộc huyện ven biển Thái Thụy; xã Vũ Ninh và xã Vũ Quý thuộc huyện ven đô Kiến Xương. Tác giả thuyết minh bối cảnh thay đổi tổ chức địa giới hành chính từ ngày 01/7/2025: sáp nhập tỉnh Thái Bình vào tỉnh Hưng Yên (mới), bãi bỏ cấp huyện và sắp xếp lại các xã (Thái Đô sáp nhập thành xã Đông Thái Ninh; Thụy Hải sáp nhập thành xã Thái Thụy; Vũ Ninh và Vũ Quý sáp nhập thành xã Vũ Quý mới). Chương này thiết lập quy trình lấy mẫu thực địa nhiều ngày tại các hộ gia đình đại diện cho các nhóm thu nhập và ngành nghề khác nhau; chuẩn hóa quy trình phân tích quang phổ hồng ngoại FTIR-ATR nhận dạng polymer; và hoàn thiện sơ đồ khung phân tích logic kết hợp các công cụ DPSIR, SWOT và đánh giá chi phí – lợi ích.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm và phân tích chính sách:

  • Về hiện trạng phát sinh: Xác định hệ số phát sinh CTN bình quân đầu người, tỷ lệ CTN trong thành phần CTRSH tại 4 xã nông thôn khảo sát; phân tích sự biến thiên của lượng phát sinh theo mức thu nhập và các nhóm ngành nghề hộ gia đình. Đánh giá tỷ lệ sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và sản phẩm nhựa đựng thực phẩm.
  • Về thành phần và đặc tính hóa học: Đo đạc và lập biểu đồ tỷ lệ các loại nhựa phổ biến tại hộ gia đình và tại bãi xử lý CTR tập trung; nhận diện đường đi của dòng CTN; công bố kết quả đo phổ FTIR xác định tỷ lệ các polymer chính (PE, PP, PET, PS, PVC...) và cấu trúc của các mẫu nhựa đa thành phần.
  • Về hiện trạng quản lý: Đánh giá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh Thái Bình (cũ); sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trước và sau thời điểm sáp nhập 01/7/2025 theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; thực trạng thu gom (phương tiện, phân loại rác tái chế bằng bao tải đỏ hoặc chậu nhựa của công nhân), hoạt động của các cơ sở tái chế phế liệu và tình trạng vận hành các lò đốt rác; phân tích các kết quả DPSIR và ma trận SWOT.
  • Dự báo và đề xuất giải pháp: Dự báo lượng CTN sinh hoạt phát sinh đến năm 2030 bằng mô hình Euler; xây dựng dự thảo danh mục giải pháp; khảo sát lấy ý kiến chuyên gia và người dân về tính khả thi, mức độ cần thiết; đánh giá chi phí – lợi ích; lựa chọn các giải pháp trọng tâm và xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể. Đánh giá khả năng áp dụng và chỉ rõ các hạn chế của nghiên cứu.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học:

  • Luận án đã thiết lập bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm về hệ số phát sinh bình quân đầu người, tỷ lệ phần trăm và cấu trúc thành phần CTN trong CTRSH tại 4 xã nông thôn (ven biển và ven đô) của tỉnh Thái Bình (cũ).
  • Đã nhận diện chính xác thành phần polymer và các đặc tính hóa học của mẫu rác nhựa sinh hoạt thông qua phương pháp phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR), làm rõ tỷ lệ nhựa đơn thành phần và đa thành phần phát tán tại các bãi xử lý rác tập trung.
  • Vận dụng tích hợp thành công các công cụ DPSIR, ma trận SWOT và phương pháp nhận diện chi phí – lợi ích để xây dựng khung phân tích logic đánh giá công tác quản lý CTN nông thôn.

Về mặt thực tiễn:

  • Đã phân tích rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước về CTRSH và CTN tại địa phương; đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ gắn chặt với bối cảnh chuyển giao tổ chức hành chính sau ngày 01/7/2025 (sáp nhập thành tỉnh Hưng Yên mới và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp).
  • Xây dựng được danh mục giải pháp trọng tâm kèm theo phân loại mức độ ưu tiên, đánh giá tính khả thi và thẩm định chi phí – lợi ích, tạo cơ sở thực tế cho các cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch hành động.
  • Đề xuất mô hình thử nghiệm kiểm soát CTN ra biển từ hoạt động tàu thuyền đánh bắt thủy hải sản tại các xã ven biển Thái Thụy và hướng dẫn phân loại CTN có khả năng tái chế ở quy mô cộng đồng.

Về các giải pháp và kiến nghị quản lý:

  • Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách: Rà soát, hoàn thiện quy chế quản lý CTRSH phù hợp Luật BVMT 2020 và mô hình chính quyền 2 cấp; triển khai cơ chế hỗ trợ tài chính, áp dụng công cụ kinh tế để khuyến khích phân loại tại nguồn.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật, hạ tầng: Cải tiến trang thiết bị thu gom riêng biệt cho rác nhựa tái chế; quy hoạch mạng lưới các điểm tập kết và khu xử lý CTR tập trung; kiểm soát quy trình đốt tại các lò đốt rác xã để hạn chế phát sinh khí độc.
  • Nhóm giải pháp tuyên truyền, xã hội hóa: Đẩy mạnh các mô hình thu gom có sự tham gia của các tổ chức đoàn thể địa phương; hỗ trợ tích hợp lực lượng thu gom phi chính thức vào chuỗi cung ứng vật liệu tái chế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát lấy mẫu thực tế tập trung tại 4 xã đại diện (Thái Đô, Thụy Hải, Vũ Ninh, Vũ Quý) thuộc hai huyện Thái Thụy và Kiến Xương của tỉnh Thái Bình (cũ), nên một số đặc thù riêng biệt của các vùng sinh thái nông thôn khác chưa được phản ánh bao quát toàn diện.
  • Nghiên cứu giới hạn đối tượng khảo sát ở rác thải nhựa sinh hoạt hộ gia đình; chưa thu thập và định lượng rác thải nhựa phát sinh từ chợ dân sinh, các cơ sở thương mại dịch vụ và hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại địa phương.
  • Chưa đo đạc thực nghiệm hàm lượng vi nhựa phân tán trong các tầng môi trường nước mặt, trầm tích cửa sông và đất canh tác nông nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi lấy mẫu và đánh giá định lượng dòng CTN tại các loại hình chợ nông thôn và các làng nghề truyền thống trên địa bàn sau sáp nhập.
  • Nghiên cứu sâu về cơ chế phát sinh, lan truyền của vi nhựa thứ cấp từ CTN sinh hoạt ra hệ sinh thái cửa sông ven biển tỉnh Hưng Yên (mới).
  • Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tài chính vận hành hệ thống thu hồi CTN nông thôn có sự kết nối với Quỹ Bảo vệ môi trường và nguồn lực từ cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR).

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý tài nguyên: Tham khảo cách tiếp cận kết hợp giữa khảo sát xã hội học nông thôn (PRA) với phân tích hóa nghiệm vật liệu bằng phổ FTIR; quy trình tích hợp các mô hình DPSIR, SWOT và phân tích chi phí – lợi ích trong nghiên cứu chính sách quản lý chất thải.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hưng Yên mới, Phòng Quản lý môi trường, UBND các xã): Tham khảo trực tiếp số liệu thực nghiệm, dự báo khối lượng phát sinh và danh mục giải pháp trọng tâm để ban hành các quy định quản lý chất thải rắn nông thôn trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương 2 cấp.
  • Các tổ chức phát triển, tổ chức bảo tồn (WWF, UNDP): Kế thừa kết quả nghiên cứu dòng chất thải nhựa tại các huyện ven biển để thiết kế các dự án giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa đại dương và hỗ trợ cộng đồng nghề cá.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án tiến hành lấy mẫu thực địa và khảo sát chuyên sâu tại những địa bàn cụ thể nào? Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã thuộc tỉnh Thái Bình (cũ), gồm xã Thái Đô và Thụy Hải (huyện ven biển Thái Thụy), xã Vũ Ninh và Vũ Quý (huyện ven đô Kiến Xương). Các địa bàn này đại diện cho hai hình thái sinh thái - kinh tế xã hội đặc trưng của địa phương là vùng ven biển và vùng đồng bằng nội địa ven đô.

  2. Phương pháp phân tích nào được sử dụng để xác định bản chất polymer của các loại chất thải nhựa? Tác giả sử dụng phương pháp quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) kết hợp kỹ thuật phản xạ toàn phần suy giảm (ATR) tại Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong phát triển xanh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Kỹ thuật này cho phép đối chiếu phổ hấp thụ của mẫu thu thập với phổ chuẩn để nhận diện các nhóm nhựa như PE, PP, PET, PS, PVC và các thành phần trong mẫu nhựa phức hợp.

  3. Luận án đã tích hợp các công cụ phân tích quản lý nào để đề xuất giải pháp? Nghiên cứu kết hợp đồng thời ba công cụ: Khung DPSIR (phân tích Động lực phát sinh, Áp lực chất thải, Hiện trạng môi trường, Tác động sinh thái - sức khỏe và Giải pháp phản hồi); Ma trận SWOT (đánh giá Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức của hệ thống quản lý rác thải nông thôn); và phương pháp phân tích, nhận diện chi phí – lợi ích (CBA) để xác định tính khả thi và thứ tự ưu tiên của các giải pháp.

  4. Bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính sau ngày 01/7/2025 ảnh hưởng như thế nào đến luận án? Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Thái Bình sáp nhập vào tỉnh Hưng Yên (mới), bỏ cấp huyện và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã). Do đó, luận án đã điều chỉnh hệ thống sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý môi trường, đánh giá thẩm quyền và xây dựng các giải pháp quản lý CTN trực tiếp gắn kết giữa cấp tỉnh và cấp xã mới, bảo đảm tính phù hợp khi chuyển đổi địa giới hành chính.

  5. Theo tài liệu tổng quan trong luận án, mức phát sinh và thành phần CTN tại tỉnh Thái Bình (cũ) được ghi nhận ra sao? Theo số liệu kế thừa từ báo cáo của WWF-Việt Nam (2023), hệ số phát sinh CTN bình quân tại tỉnh Thái Bình (cũ) năm 2021 là 23 kg/người.năm, trong đó CTN chiếm khoảng 17% khối lượng CTRSH. Nghiên cứu của Trần Việt Hùng và cs (2020) tại huyện Tiền Hải chỉ ra túi ni lông chiếm từ 8% đến 11% trong CTRSH nông thôn.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thị Phương Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực nghiệm về hiện trạng phát sinh, thành phần vật liệu và công tác quản lý chất thải nhựa sinh hoạt tại khu vực nông thôn tỉnh Thái Bình (cũ). Bằng việc tích hợp các kỹ thuật đo quang phổ FTIR và bộ công cụ phân tích DPSIR, SWOT, CBA, công trình đã luận chứng khoa học cho hệ thống giải pháp quản lý CTN theo định hướng kinh tế tuần hoàn. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn phục vụ công tác tổ chức và quản lý môi trường tại địa phương trong giai đoạn chuyển đổi sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình chính quyền hai cấp.