CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG XÂY DỰNG 1. Khái niệm, phương pháp và mô hình quản lý chất lượng. Chất lượng và chất lượng sản phẩm xây dựng [1] Cuộc “cách mạng công nghiệp” đã diễn ra trong thế kỷ trước. Có lẽ cuộc “cách mạng máy tính” đã ra đời vào những năm đầu thập kỷ 1980; nhưng ngày nay, không nghi ngờ gì nữa, chúng ta đang ở vào cuộc “cách mạng chất lượng” - một thời kỳ biến đổi đang tác động tới mọi kiểu kinh doanh, xí nghiệp, tổ chức và mọingười.
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, nếu một doanh nghiệp muốn đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc liên tục giảm giá thành và cải thiện chất lượng là thiết yếu. Có ba điều để đo lường khả năng cạnh tranh: chất lượng, giá cả và phục vụ. Lý thuyết về chi phí cho chất lượng chứng minh rằng khi chất lượng được nâng cao lên thì giá thành sẽ hạ xuống nhờ giảm được các tổn phí vì hư hao và chi phí cho thẩm định chi phí. Đảm bảo thoả mãn cho khách hàng cả về chất lượng và giá cả thì rõ ràng sẽ có lợi cho việc nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường.
Không còn vướng mắc về chất lượng thì sẽ không cần đến các “hoạt động ngầm” nhằm xử lý những sản phẩm bị hỏng, không đạt yêu cầu và công tác lưu thông phân phối sẽ được lợi nhờ sản lượng tăng lên và năng suất cao hơn - Theo TCVN 9000:2000 “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình để thoả mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” Ta có thể rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng: a. Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình; 5 b.
Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng; c. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng ta phải xét đến đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế (những quy định, tiêu chuẩn), nhu cầu của cộng đồng xã hội; d. Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá mà ta vẫn hiểu hàng ngày.
Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình. Đối với chất lượng sản phẩm xây dựng: - Sản phẩm xây dựng luôn gắn liền với địa điểm xây dựng nên sẽ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình tại nơi sản xuất; - Một sản phẩm xây dựng có thể được hình thành bởi nhiều các phương pháp sản xuất khác nhau, thời gian thi công kéo dài, có tính chất lưu động cao; - Sản phẩm xây dựng được hình thành bao gồm từ nhiều các hạng mục nên việc kiểm tra giám sát chất lượng công trình phải được thực hiện theo trình tự phù hợp với đặc điểm của sản phẩm xây dựng; - Sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc và giá của sản phẩm cũng được hình thành trước khi sản xuất. Trong quá trình sản xuất luôn có sự giám sát chất lượng và thường có những thay đổi về thiết kế nhằm đáp ứng yêu cầu của CĐT và đáp ứng được các yêu cầu thực tế đề ra; Khái niệm về chất lượng công trình xây dựng có thể được hiểu: Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng. Quản lý chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng sản phẩm không phải do một người hay một bộ phận tạo ra mà là kết quả của một chuỗi những hoạt động có liên quan với nhau trong toàn bộ quá trình 6 từ khâu thiết kế, sản xuất, cung ứng,… đến các dịch vụ để thoả mãn khách hàng cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Vì vậy cần phải có biện pháp tổ chức và quản lý có tính chất hệ thống và đồng bộ trong tổ chức.Robertson, một chuyên gia người Anh có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này cho rằng: “Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng dụng các phương pháp, thủ tục và kiến thức khoa học kỹ thuật bảo đảm cho các sản phẩm sẽ hoặc đang sản xuất phù hợp với yêu cầu thiết kế, hoặc với yêu cầu trong hợp đồng kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất”. Ông còn nhấn mạnh “Quản lý chất lượng sản phẩm được xác định là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng”. TCVN ISO 9000:2000 hướng dẫn “Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng, mục đích và trách nhiệm, thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”. Từ những định nghĩa trên cho thấy quản lý chất lượng sản phẩm rất khác so với kiểm tra chất lượng sản phẩm mà các doanh nghiệp Việt nam hay dùng đó là quản lý chất lượng sản phẩm đề cao vấn đề chủ động phòng ngừa khuyết tật của từng chi tiết sản phẩm hơn là chỉ kiểm tra thành phẩm rồi loại bỏ phế phẩm như biện pháp kiểm tra sản phẩm đã làm.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với công trình xây dựng, một sản phẩm phức tạp, quá trình hình thành sản phẩm qua nhiều công đoạn với sự tham gia của nhiều người, mất nhiều thời gian, sử dụng vốn lớn và không được phép có phế phẩm. Quản lý chất lượng trong hoạt động xây dựng [2] Điểm đặc biệt trong hoạt động xây dựng, nó ảnh hưởng đến quản lý chất lượng là: - Các dự án trong hoạt động xây dựng là riêng biệt và duy nhất. Không giống như trong ngành chế tạo sản phẩm hàng loạt. Chúng không có nhiều cơ hội để tìm thấy và 7 loại bỏ những sai sót trong cả quá trình tạo ra sản phẩm; Quản lý việc đảm bảo chất lượng trong xây dựng khó hơn trong chế tạo, bởi vì công việc khó kiểm soát hơn, các hạng mục công trình nằm rãi rác trong cả khu công trường rộng chứ không phải chỉ ở trong nhà máy; - Môi trường thực địa khó quản lý hơn và thường là khắc nghiệt hơn, ví dụ bụi, nóng, gió, mưa, bảo… - Trong từng giai đoạn, việc lập kế hoạch quản lý chất lượng cần phải kết hợp chặt chẽ với những quy định pháp luật, tiêu chuẩn hiện hành.
Một số phương pháp và mô hình quản lý chất lượng [3] 1. Kiểm tra chất lượng – I (Inspection) Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ một bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật. Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất về chất lượng càng ngày càng mãnh liệt. Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất.
Theo định nghĩa, kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính. Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý "chuyện đã rồi". Nói theo ngôn ngữ hiện nay thì chất lượng không được tạo dựng nên qua kiểm tra. Vào những năm 1920, người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm.
Khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) ra đời. Kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control) Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng. Để kiểm soát chất lượng, kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng. Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm khuyết tật.
Kiểm soát chất lượng là kiểm soát các yếu tố: Con người, phương pháp và quá trình, đầu vào, thiết bị, môi trường… Để quá trình kiểm soát chất lượng hiệu quả, doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu tổ chức phù hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận. Hoạt động kiểm soát chất lượng được tiến hành theo chu trình P (Plan - Kế hoạch) – D (Do - thực hiện) – C (Check - Kiểm tra) – A (Action – Hành động) 1. Đảm bảo chất lượng – QA (Quality Assurance) Đảm bảo chất lượng là hoạt động có kế hoạch, có hệ thống nhằm tạo ra sự tin tưởng rằng đối tượng sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu về chất lượng. Đảm bảo chất lượng nội bộ nhằm tạo lòng tin cho lãnh đạo và các thành viên trong tổ chức, đảm bảo chất lượng với bên ngoài nhằm tạo lòng tin cho khách hàng và những người có liên quan khác rằng yêu cầu chất lượng được thoả mãn.
Để đảm bảo chất lượng hiệu quả, lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp phải xác định đúng chính sách chất lượng, phải xây dựng hệ thống chất lượng có hiệu lực và hiệu quả, kiểm soát được các quá trình ảnh hưởng đến chất lượng, ngăn ngừa các nguyên nhân gây kém chất lượng. Đồng thời phải đưa ra được những bằng chứng khả năng kiểm soát chất lượng của mình nhằm tạo lòng tin đối với khách hàng.