Đặt vấn đề nghiên cứu Trong những năm gần đây, Việt Nam đã chứng kiến một giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và ấn tượng. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đi đôi với quá trình đô thị hóa sôi động và nhu cầu ngày càng gia tăng về cơ sở hạ tầng hiện đại, dẫn đến việc triển khai xây dựng một khối lượng công trình vô cùng lớn trên khắp cả nước. “Trong bối cảnh này, ngành công nghiệp xây dựng đã đóng vai trò trụ cột, là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia. Ngành xây dựng không chỉ đảm nhận nhiệm vụ cung cấp đầy đủ các vật liệu, trang thiết bị và thi công xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật cho mọi lĩnh vực kinh tế khác, mà còn sản xuất ra những sản phẩm xây dựng có giá trị gia tăng cao như nhà ở, trung tâm thương mại, tòa nhà văn phòng.
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng lớn của người dân.” Với đóng góp to lớn trong việc xây dựng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, ngành xây dựng thực sự đã trở thành một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội và nâng cao mức sống, trình độ văn minh của toàn xã hội. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành này phản ánh rõ nét quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra với nhịp độ nhanh chóng. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư của mỗi dự án xây dựng phụ thuộc rất lớn vào năng lực chủ quan của đội ngũ nhân lực tham gia vào dự án đó. Thực tế, con người vẫn luôn là yếu tố quyết định then chốt cho thành công của bất kỳ công trình nào, bất kể dự án được trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại đến đâu.
Hiệu quả đầu tư của một dự án thường được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí chính: chất lượng của công trình, thời gian đưa công trình vào sử dụng và chi phí đầu tư. Các yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào năng lực chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và tinh thần trách nhiệm của từng cá nhân tham gia vào các công đoạn khác nhau trong quy trình thực hiện dự án. Trong đó, công đoạn thiết kế đóng một vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự bền vững của công trình như các dự án “Hội trường đa năng huyện Tân Phước”, “Trụ sở làm việc Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh huyện Tân Phước”, “Trường Tiểu học Tân Thới”. và ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí xây dựng.
Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều công trình bị thiết kế kém an toàn dẫn 1 đến chất lượng không đảm bảo hoặc thiết kế quá sơ sài gây lãng phí rất lớn, đặc biệt là các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Theo báo cáo Thanh tra Việt Nam tại tỉnh Tiền Giang cũng chỉ ra nhiều sai sót chưa phù hợp với các dự án trên địa bàn như: “không thể hiện bản đồ cắm mốc chỉ giới đường đỏ và chỉ giới xây dựng các tuyến đường, không có bản vẽ quy hoạch san nền, không thể hiện được cao độ nền, đường giao thông, bản đồ quy hoạch đất đai chưa thể hiện các yêu cầu quản lý sử dụng đất như tầng cao xây dựng, mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất”… theo đúng quy định. Qua những sai sót trên đã kết luận các nguyên nhân gây khó khăn trong quá công tác kiểm định và phê duyệt gặp nhiều khó khăn. “Nghiên cứu này xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả ĐCTK xây dựng dân dụng vốn nhà nước và tìm ra những yếu tố tác động mạnh đến hiệu quả thông qua mô hình cấu trúc SEM.
Dựa vào các kết quả để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao các nhân tố ảnh hưởng đến ĐCTK xây dựng dân dụng vốn nhà nước tại tỉnh Tiền Giang, các giải pháp này đóng vai trò then chốt góp phần cải thiện chất lượng công trình, đảm bảo hiệu quả đầu tư và giảm thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng. Mục tiêu nghiên cứu − Xác định các nhân tố tác động đến việc điều chỉnh thiết kế trong các dự án xây dựng dân dụng vốn nhà nước tại tỉnh Tiền Giang. − Khảo sát, thu thập và xử lý số liệu, phân tích định lượng thông qua mô hình cấu trúc SEM để đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố đến điều chỉnh thiết kế. − Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thiết kế và hạn chế tối đa việc điều chỉnh thiết kế ảnh hưởng đến tiến độ dự án.
Pham vi đề tài − Đối tượng nghiên cứu: Các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến ĐCTK xây dựng dân dụng vốn nhà nước. − Đối tượng khảo sát: CQQLNN, SXD, CĐT, TVTK, TVGS, ban QLDA, nhà thầu thi công trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. 2 − Phạm vi thời gian nghiên cứu: từ ngày 15/01/2024 – ngày 20/05/2024. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học “Nghiên cứu này đặt mục tiêu hệ thống hóa và phân tích một cách toàn diện các nhân tố tác động đến hiệu quả đầu tư công trong lĩnh vực xây dựng dân dụng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Việc xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố sẽ tạo ra cơ sở khoa học quan trọng, giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này. Từ đó, các biện pháp, giải pháp quản lý, sử dụng vốn nhà nước sẽ được đề xuất một cách phù hợp và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu suất sử dụng vốn nhà nước tại địa phương.” “Cụ thể, nghiên cứu sẽ tập trung xác định và phân tích những nhân tố then chốt, có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến việc điều chỉnh thiết kế trong các dự án xây dựng dân dụng sử dụng vốn nhà nước tại Tiền Giang. Trên cơ sở đó, các giải pháp, kiến nghị cụ thể sẽ được đưa ra nhằm tối ưu hóa quá trình điều chỉnh thiết kế, hạn chế tối đa những điều chỉnh thiết kế dẫn đến lãng phí, kéo dài tiến độ dự án.
Điều này sẽ góp phần thúc đẩy phát triển bền vững cho lĩnh vực xây dựng dân dụng tại địa phương, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước cho ngành xây dựng nói chung. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu này tập trung xác định và phân tích một cách toàn diện các nhân tố chính gây ra sự thay đổi, điều chỉnh thiết kế trong lĩnh vực xây dựng dân dụng sử dụng vốn nhà nước. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá tầm ảnh hưởng, tác động của những nhân tố này đến hiệu quả thực thi thành công của các dự án xây dựng. Một mô hình đánh giá được xây dựng và vận dụng nhằm phân tích mức độ tương quan cũng như xếp hạng tầm quan trọng của từng yếu tố.
Trên cơ sở đó, các giải pháp, khuyến nghị phù hợp sẽ được đề xuất với mục tiêu hạn chế tối đa các trường hợp phải điều chỉnh, thay đổi thiết kế xây dựng. “Nghiên cứu này sẽ cung cấp cho các nhà quản lý của chủ đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các đơn vị tư vấn thiết kế cái nhìn sâu sắc về các nguyên nhân dẫn đến thay đổi thiết kế, xung đột về thiết kế giữa các bên tham gia trong suốt quá trình 3 triển khai dự án xây dựng. Từ đó, các giải pháp, biện pháp cụ thể sẽ được nghiên cứu đề xuất nhằm hạn chế hoặc kiểm soát hiệu quả tình trạng điều chỉnh thiết kế, giảm thiểu các sai sót trong công tác phối hợp vận hành giữa các đơn vị liên quan, góp phần đảm bảo thành công của quá trình thiết kế xây dựng.” Ngoài ra, nghiên cứu này còn tiến hành các phân tích chi tiết về mối tương quan giữa các yếu tố khác nhau dẫn đến điều chỉnh thiết kế. Điều này sẽ giúp các nhà quản lý dự án có thể xác định và tập trung nguồn lực vào xử lý những yếu tố then chốt, có tác động quan trọng nhất cần được ưu tiên giải quyết.
Các kết quả phân tích từ nghiên cứu sẽ trở thành cơ sở khoa học quan trọng để các bên liên quan trong lĩnh vực xây dựng dân dụng có thể xây dựng các chiến lược, quy trình vận hành phù hợp nhằm nâng cao năng lực thiết kế, giảm thiểu tối đa rủi ro và đảm bảo hiệu quả cao trong việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng. TỔNG QUAN Chương này cung cấp tổng quan về các khái niệm liên quan đến vốn nhà nước và điều chỉnh thiết kế xây dựng. Tiếp đó, thực trạng điều chỉnh thiết kế tại một số dự án cụ thể liên quan đến đề tài sẽ được trình bày. Cuối cùng, chương này tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố tác động đến điều chỉnh thiết kế xây dựng.
Việc này nhằm xác định các nhân tố chính, làm nền tảng cho phân tích sâu hơn trong các chương sau. Tổng quan về vốn nhà nước Theo vốn nhà nước, vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước hay vốn đầu tư khác được quy định tại Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 [1], Luật Xây dựng số 62/2020/QH14 [2], Nghị định số 15/2021/NĐ-CP [3] về quản lý dự án đầu tư xây dựng: “Dự án đầu tư công là các dự án được Chính phủ tài trợ toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn, hoặc được nhân dân tự nguyện đóng góp bằng tiền mặt hay lao động, nhằm đáp ứng các nhu cầu mang tính cộng đồng. Khái niệm này có thể được mở rộng hơn để bao gồm cả những dự án do Chính phủ hoặc chính quyền địa phương kêu gọi viện trợ quốc tế. Thậm chí, ngay cả những dự án do đơn vị tư nhân tài trợ cũng có thể được coi là dự án đầu tư công nếu chúng hướng tới mục tiêu nâng cao lợi ích công cộng.
Điểm quan trọng để xác định tính chất công của một dự án là mục đích của nó - tạo ra những lợi ích cho cộng đồng, chứ không phải xuất xứ nguồn vốn đầu tư.