Luận văn tốt nghiệp nhu cầu đầu tư xây dựng ntm tại các xã biên giới đặc biệt khó khăn huyện thông nông tỉnh cao bằng giai đoạn 2020 2025

Luận văn phân tích nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới tại các xã biên giới khó khăn huyện Thông Nông, Cao Bằng giai đoạn 2020-2025.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Phát triển nông thôn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

68
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ, THUẬT TỪ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa đối với thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1. Khái niệm nhu cầu

2.1.2. Đặc điểm của nhu cầu

2.1.3. Đầu tư

2.1.4. Nông thôn mới

2.1.5. Nội dung xây dựng nông thôn mới

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin

3.3.2. Phương pháp xử lý, phân tích thông tin số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu

4.1.1. Giới thiệu huyện Thông Nông

4.1.2. Giới thiệu đặc điểm của 4 xã biên giới, đặc biệt khó khăn

4.2. Nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới của các xã biên giới, đặc biệt khó khăn huyện Thông Nông

4.2.1. Nhu cầu đầu tư về cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội

4.2.2. Nhu cầu đầu tư về hỗ trợ phát triển sản xuất

4.2.3. Tổng hợp vốn đầu tư phát triển và hỗ trợ sản xuất

4.3. Quan điểm, mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội các xã biên giới, đặc biệt khó khăn huyện Thông Nông, giai đoạn 2020-2025

4.3.1. Quan điểm và mục tiêu

4.3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển kinh tế-xã hội xã biên giới, đặc biệt khó khăn huyện Thông Nông

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, đặc biệt tại các xã biên giới huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng. Mặc dù đã thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng NTM được 10 năm, nhưng nhiều xã vẫn gặp khó khăn trong việc phát triển. Đặc biệt, bốn xã Cần Nông, Cần Yên, Vị Quang và Lương Thông là những xã đặc biệt khó khăn, với nhiều thách thức về kinh tế và xã hội. Việc đầu tư xây dựng NTM không chỉ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, cần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, gắn phát triển kinh tế với xây dựng NTM. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một kế hoạch đầu tư cụ thể cho giai đoạn 2020-2025.

II. Nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới

Nhu cầu đầu tư cho việc xây dựng nông thôn mới tại các xã biên giới huyện Thông Nông được xác định qua nhiều yếu tố. Đầu tiên, cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, bao gồm đường giao thông, hệ thống điện, nước sạch và các công trình công cộng. Thứ hai, việc hỗ trợ phát triển sản xuất là rất quan trọng, nhằm nâng cao thu nhập cho người dân. Các dự án đầu tư cần được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế của từng xã, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Theo thống kê, tổng vốn đầu tư cho các hạng mục này cần được xác định rõ ràng để có thể huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân và chính phủ. Việc này không chỉ giúp cải thiện đời sống người dân mà còn góp phần phát triển bền vững khu vực nông thôn.

III. Giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư

Để đáp ứng nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới, cần có những giải pháp cụ thể và khả thi. Trước hết, cần xây dựng một quy hoạch nông thôn rõ ràng, xác định các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Thứ hai, cần tăng cường chính sách hỗ trợ từ chính phủ cho các xã đặc biệt khó khăn, bao gồm cả hỗ trợ tài chính và kỹ thuật. Thứ ba, việc nâng cao đời sống nông thôn thông qua các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực cho người dân cũng rất quan trọng. Cuối cùng, cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc xây dựng và thực hiện các dự án, từ đó tạo ra sự đồng thuận và trách nhiệm trong việc phát triển nông thôn.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu về nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới tại các xã biên giới huyện Thông Nông không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Về mặt khoa học, nghiên cứu giúp củng cố và áp dụng các lý thuyết về phát triển nông thôn vào thực tiễn. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý, giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc phân bổ nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn. Hơn nữa, việc thực hiện các giải pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựngNTM đang là vấn đề cấp bách hiện nay trên phạm vi cả nước, mặc dù chúng ta đã thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng NTM được 10 năm. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn tới là “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn phát triển kinh tế với xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức hợp lý, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh xã hội được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, gắn phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng”. Bốn xã Cần Nông, Cần Yên, Vị Quang và Lương Thông là xã biên giới, khu vực III (khu vực khó khăn nhất), xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK), vùng cao của huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng.

Trong những năm qua cùng với sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Cao Bằng, huyện Thông Nông và sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền cùng toàn thể nhân dân địa phương nên sản xuất, kinh doanh trên địa bàn đã được duy trì và phát triển, các tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất được triển khai đã góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, bộ mặt nông thôn dân miền núi dần đổi mới. Các xã này có vị trí chiến lược rất quan trọng, đồng thời đây là khu vực nhạy cảm, dân cư phân bố phân tán, thu nhập thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ dân trí thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu và không đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân, và được đánh giá là vùng thấp trũng nhất hiện nay về xây dựng NTM. Luan van 2 Thực hiện định hướng Chương trình Quốc gia Xây dựng NTM của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030; chủ trương của huyện ủy, HĐND và UBND huyện Thông Nông về xây dựng NTM trên địa bàn huyện. Ban chỉ đạo NTM bốn xã trong huyện đã triển khai nghiên cứu lập đề án thực hiện chương trình NTM giai đoạn 2020 - 2025.

Để góp phần công sức vào quá trình xây dựng NTM tại địa phương, tôi chọn đề tài nghiên cứu: ‘Nhu cầu đầu tư xây dựng NTM tại các xã biên giới, đặc biệt khó khăn huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng, giai đoạn 2020-2025’ đã được triển khai. Mục tiêu đề tài - Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, KT-XH của địa bàn nghiên cứu; - Đánh giá nhu cầu đầu tư xây dựng NTM, phát triển KT-XH của các xã biên giới, xã ĐBKK tại địa bàn nghiên cứu; - Đề xuất mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng NTM, góp phần thực hiện phát triển kinh tế-xã hội các xã biên giới, xã ĐBKKgiai đoạn 2020-2025. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp cho tôi có điều kiện củng cố và áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân.

- Rèn luyện kĩ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo. Ý nghĩa đối với thực tiễn - Giúp hiểu thêm tình hình xây dựng NTM và tình hình kinh tế xã hội tại địa phương. - Nhận thức được những gì làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã, để có hướng đi đúng đắn. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.

Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm nhu cầu Theo Bách khoa toàn thư: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận.

Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Luan van 4 Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi,.

Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân,.Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống,.

họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng,. Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn. Ví dụ như: người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn. Đặc điểm của nhu cầu Theo quan điểm kinh tế học, nhu cầu là mong muốn có được sản phẩm cụ thể dựa trên khả năng mua và thái độ sẵn lòng mua.

Nhu cầu được thể hiện cụ thể bằng sức mua. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định đến nhu cầu. Nhu cầu của một cá nhân luôn đa dạng và vô tận.

Về mặt quản lý, Luan van 5 người quản lý chỉ có thể kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân. Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu cầu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng. Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội. Đầu tư Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại đã tích lũy được vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm thu được các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ.

Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ. Nông thôn mới Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về NTM. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương, NTM là khu vực có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội - nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhu cầu đầu tư xây dựng nông thôn mới tại các xã biên giới đặc biệt khó khăn huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2020-2025" của tác giả Triệu Thị Xuyến, dưới sự hướng dẫn của PGS. Dương Văn Sơn, tập trung vào việc phân tích nhu cầu đầu tư cho các xã biên giới khó khăn tại huyện Thông Nông. Bài viết nêu rõ tầm quan trọng của việc đầu tư xây dựng nông thôn mới nhằm cải thiện đời sống người dân, phát triển kinh tế địa phương và nâng cao chất lượng hạ tầng. Đặc biệt, giai đoạn 2020-2025 được xác định là thời điểm quan trọng để thực hiện các chính sách đầu tư hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý xây dựng và đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi trình bày các phương pháp quản lý và đấu thầu trong xây dựng nông nghiệp. Ngoài ra, bài viết Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dự án đầu tư xây dựng, giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình và thách thức trong lĩnh vực này. Cuối cùng, bài viết Nâng cao chất lượng tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và quy hoạch Nam Trung Bộ sẽ giúp bạn khám phá các giải pháp nâng cao chất lượng trong quản lý dự án đầu tư xây dựng, một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các dự án nông thôn mới.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về đầu tư và quản lý trong lĩnh vực nông thôn và xây dựng.