Chương I: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với các cơ sở GDMN NCL Chương II: Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Sinh viên: Dương Thị Phương Thúy Lép: Kinh tế và quản lý đô thị K55 12 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội Sinh viên: Dương Thị Phương Thúy Lép: Kinh tế và quản lý đô thị K55 13 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp CHUONG I CƠ SỞ LY LUẬN VE QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI CAC CƠ SO GIAO DUC MAM NON NGOAI CONG LAP 1.1 Khái niệm giáo dục và quản lý nhà nước về giáo duc "Giáo dục là quá trình được tổ chức có ÿ thức, hướng tới mục đích khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phan hoàn thiện nhân cách cả thay và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu câu tôn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại". Quản lý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyên lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vị toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà Nước. Tâm quan trọng của giáo dục trong sự phát triển của đô thị Giáo dục là một trong những yếu tố chịu ảnh hướng từ quá trình đô thị hóa.
Quá trình này có tác động hai mặt đối với giáo dục. Mặt tích cực là giúp giáo dục được hội nhập với thế giới, du nhập được nhiều kiến thức cũng như kỹ năng mới cần thiết cho sự phát triển. Mặt tiêu cực là đô thị hóa dễ gây hiện tượng “chảy máu chất xám”, du nhập những kiến thức không tốt cho quá trình phát trién. Giáo dục là một trong những yếu tố thúc đây sự phát triển mạnh mẽ của đô thị.
Tại các đô thị, giáo dục phát triển sẽ đem đến cho xã hội một lực lượng tri thức, kỹ sư có tay nghề cao phục vụ cho việc phát triển kinh tế của đô thị. Giáo dục phát triển cũng giúp đào tạo một lực lượng các nhà quản lý có năng lực, kinh nghiệm dé tham gia vào công tac quan lý đô thị. Giáo dục cũng chính là công cụ dé xóa bỏ khoảng cách lỗi thời giữa các đô thị, đồng thời nó cũng làm gia tăng giá trị của đô thị đó.2 Giáo dục mầm non 1.1 Khai niệm giáo dục mam non Khái niệm dưới đây được tông hợp từ điều 6 và điều 18 Luật Giáo dục của Quốc hội số 11/1998/QH10 ngày 2 tháng 12 năm 1998 như sau: “Giáo duc mam non có nhà trẻ và mẫu giáo, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuôi dén sau tuoi”. Sinh viên: Duong Thị Phương Thúy Lép: Kinh tế và quản lý đô thị K55 14 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Mục tiêu của Giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thâm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
Giáo dục mam non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn điện của trẻ, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Giáo dục mầm non được chia thành 02 giai đoạn: Nhà trẻ và Mẫu giáo. Giai đoàn nhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng đến ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi.2 Vai trò và mục tiêu của giáo dục mam non a. Vai tro Giáo dục mầm non là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đầu tiên - đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của trẻ.
Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc học mầm non cảng sớm, cảng thúc đây quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo. Chính vì vậy bậc học này đóng một vai trò quan trọng và cần được quan tâm trước hết trong hệ thống giáo dục ở mỗi nước. Mục tiéu Mục tiêu của giáo dục mam non nhằm giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thầm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 (Theo điều 22 - Luật giáo dục năm 2005). Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của bậc học có nhiều nét đặc thù nay, Đảng, Chính phủ quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển giáo dục mầm non.
Đặc biệt, Thủ tướng đã ban hành quyết định số 239/QDTTg phê duyệt dé án “Phổ cập giáo dục mam non cho trẻ 5 tuôi giai đoạn 2010 — 2015”. Mục tiêu của đề án này là hầu hết trẻ ở mọi miền được trang bị những kiến thức cơ bản về tiếng Việt, đảm bao chất lượng dé trẻ vào lớp 1. Cũng theo dé án này, từ nay đến 2015, nước ta phan dau nâng tỉ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến trường lên 30%; trẻ 3 — 5 tuôi được đến lớp mẫu giáo đạt 75%. Đề hoàn thành được những mục tiêu trên, phải trông chờ vào hệ thống các trường mầm non trong và ngoài công lập.
Tuy nhiên, với hệ thống giáo dục mam non tại các tỉnh, thành, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa như hiện nay, nhiều nhà quản lý giáo dục lo ngại rằng, mục tiêu trên sẽ khó khả thi. Nhất là khi mà nguồn ngân sách dau tư cho bậc học mam non, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chât cho bậc học này còn nhiêu thiêu thôn. Sinh viên: Dương Thị Phương Thúy Lép: Kinh tế và quản lý đô thị K55 15 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp 12.3 Tiêu chuẩn đánh giá giáo dục mam non của Việt Nam Theo Thông tư 7/2011/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đảo tạo ban hành, kế từ ngày 3/4/2011, chất lượng giáo dục mam non được đánh giá qua 5 tiêu chuẩn. “Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non là công cụ để trường mầm non (gọi là nhà trường) tự đánh giá nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; dé công khai với xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường; để cơ quan có thâm quyền đánh giá, công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo duc.” Cụ thé, 5 tiêu chuẩn này gồm: Thứ nhất, về tô chức và quản lý nhà trường, nhà trường phải có không quá 7 điểm trường và được đặt tại trung tâm khu dân cư; có sé luong tré va sé luong nhóm trẻ, lớp mau giáo theo quy định; trẻ được phân chia theo độ tuổi, được tổ chức bán trú và học 2 buổi/ngày.
Nhà trường phải tô chức khám sức khỏe định kỳ ít nhất 2 lần/năm học đối với trẻ, ít nhất 1 lần/năm học đối với cán bộ, giáo viên và nhân viên. Thứ hai, về cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, Thông tư quy định, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nhà trường phải có thời gian công tác liên tục trong giáo dục mầm non ít nhất là 5 năm đối với hiệu trưởng và 3 năm đối với phó hiệu trưởng: có bằng trung cấp sư phạm mam non trở lên, đã qua lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục. 100% giáo viên của trường phải đạt trình độ chuẩn, trong đó có Ít nhất 30% giáo viên trên chuẩn về trình độ đào tạo. Thứ ba, đối với tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trang thiết bị, phòng sinh hoạt chung (có thể dùng làm nơi ăn, ngủ cho trẻ) phải đảm bảo diện tích trung bình 1,5 - 1,8m? cho một trẻ, đủ ánh sáng tự nhiên và thoáng, nền láng xi măng, lát gạch hoặc gỗ màu sáng không trơn trượt.
Phòng ngủ cho trẻ đảm bảo diện tích trung bình 1,2 - 1,5m” cho một trẻ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm ap vé mua đông, có du các đồ dùng phục vụ trẻ ngủ. Thứ tw, về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, nhà trường cần chủ động phối hợp với cha mẹ trẻ để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Giáo viên phụ trách nhóm trẻ, lớp mẫu giáo và gia đình thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình ăn, ngủ và các hoạt động khác của trẻ. Tiêu chuẩn thứ 5 đề đánh giá chất lượng giáo dục mầm non là kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ.
Trẻ có sự phát triển về thể chất theo mục tiêu của Chương trình Giáo dục mâm non, chiêu cao, cân nặng, phát triên bình thường theo độ tuôi; trẻ suy Sinh viên: Dương Thị Phương Thúy Lép: Kinh tế và quản lý đô thị K55 16 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp dinh dưỡng, béo phi và trẻ khuyết tật được chú trọng chăm sóc và có kết quả tiến bộ ro rệt.3 Khai niệm các cơ sở Giáo dục mầm non ngoài công lap(GDMN NCL) Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục là cơ sở giáo dục mam non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tô chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thâm quyền cho phép. Nguồn dau tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Nhà trường, nhà trẻ tư thục, có tư cách pháp nhân, con dấu và được mở tài khoản riêng. Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục: (1) Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tudi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mam non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
(2) Huy động trẻ em lứa tuổi mam non đến trường; tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. (3) Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. (4) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật. Xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cau tối thiêu đối với vùng khó khăn.