MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của Đề tài: Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hoá đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu đời sống của con ngƣời. Những năm gần đây, mặc dù bị ảnh hƣởng bởi sự suy thoái kinh tế toàn cầu nhƣng vốn đầu tƣ cho xây dựng cơ bản vẫn chiếm một t trọng lớn trong tổng số vốn đầu tƣ. Theo thống kê, hàng năm vốn đầu tƣ từ ngân sách Nhà nƣớc cho xây dựng hạ tầng chiếm t lệ đáng kể GDP góp phần tăng trƣởng và phát triển kinh tế.Số lƣợng các công trình và t lệ các công trình có quy mô vừa và lớn không ngừng tăng. Vì vậy, chất lƣợng công trình xây dựng là vấn đề cần đƣợc hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự an toàn, phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đặc biệt là đời sống của con ngƣời.
Thời gian qua, đƣợc sự quan tâm của Nhà nƣớc và phát triển của công nghệ xây dựng, công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng đã có những tiến bộ đáng kể. Chúng ta đã xây dựng đƣợc nhiều công trình đạt chất lƣợng cao, đáp ứng thẩm mỹ, góp phần quan trọng trong tăng trƣởng của nền kinh tế; tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn c n không ít các công trình chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, gây mất an toàn, tốn kém cả về kinh phí lẫn thời gian cho việc sửa chữa, khắc phục. Ví dụ nhƣ sự cố do quản lý chất lƣợng ở một số công trình công cộng, một vài hồ chứa nƣớc thủy lợi - thủy điện, sập cầu Cần Thơ, cao ốc Pacific cuối năm 1997. Đó thực sự là những thảm họa, cƣớp đi sinh mạng của nhiều ngƣời, gây thiệt hại không nhỏ cho xã hội.
Mặc dù Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý chất lƣợng công trình xây dựng, nhiều giải pháp nâng cao chất lƣợng công trình nhƣng cùng với sự phát triển không ngừng của xây dựng cơ sở hạ tầng đất nƣớc, chất lƣợng công trình xây dựng là một vấn đề luôn cần đƣợc quan tâm. Thực tế cho thấy, dự án nào có hệ thống quản lý chất lƣợng chặt chẽ, các chủ thể tham gia có đủ trình độ, năng lực, việc tổ chức thực hiện tuân thủ các quy định thì ở đó công trình đảm bảo chất lƣợng và phát huy hiệu quả tốt. Hiện nay, Nhà nƣớc đƣa ra nhiều quy định, hƣớng dẫn về công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng thông qua hệ thống văn bản pháp luật, qua việc đào tạo nâng cao năng lực và trách nhiệm đơn vị tham gia, tăng cƣờng phân cấp trong quản lý tuy vậy, việc áp dụng hay giải pháp phù hợp c n nhiều bất cập. Để thực hiện theo đúng quy định của Nhà nƣớc, đáp ứng cơ chế thị trƣờng có sự định hƣớng của Nhà nƣớc, trong lĩnh vực xây dựng cần nghiên cứu mô hình quản lý chất lƣợng công trình xây dựng phù hợp, hệ thống quản lý chất lƣợng chặt chẽ đảm bảo mục tiêu các công 1 Tieu luan trình đƣợc xây dựng có chất lƣợng, an toàn và hiệu quả.
Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài: “Nghiên cứu giải pháp quản lý chất lƣợng công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng huyện Vĩnh Hƣng’’ mang tính thực tế và cấp thiết.2 Mục đích của Đề tài: Thông qua nghiên cứu tổng quan công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng; Nghiên cứu các vấn đề quản lý chất lƣợng công trình xây dựng; Từ đó nghiên cứu giải pháp nhằm đề xuất công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng phù hợp với điều kiện nƣớc ta và với Ban Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng huyện Vĩnh Hƣng tỉnh Long An.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng cấp huyện và áp dụng tại Ban quản lý dự án đầu tƣ xây dựng huyện Vĩnh Hƣng trên cơ sở quy định của pháp luật, phân công nhiệm vụ của địa phƣơng, thực trạng cơ cấu và con ngƣời của Ban từ đó đề xuất giải pháp cho phù hợp.4 Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu: - Cách tiếp cận: + Tiếp cận qua các nghiên cứu, tài liệu đã công bố + Tiếp cận qua thực tế công trình đã xây dựng + Tiếp cận qua các nguồn thông tin khác - Phƣơng pháp nghiên cứu: + Phƣơng pháp lý thuyết + Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích đánh giá + Phƣơng pháp chuyên gia 1.5 Kết quả dự kiến đạt đƣợc: - Tổng quan về quản lý chất lƣợng công trình xây dựng ; - Nghiên cứu các cơ sở khoa học về công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng hiện nay; - Nghiên cứu giải pháp nhằm đề xuất công tác quản lý chất lƣợng công trình xây dựng phù hợp với điều kiện nƣớc ta và với Ban Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng huyện Vĩnh Hƣng tỉnh Long An. 2 Tieu luan CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Dự án và dự án đầu tƣ xây dựng công trình.1 Khái niệm dự án. Dự án theo đƣợc hiểu là “ một tập hợp các công việc, đƣợc thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt đƣợc một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến”. Theo quy trình Quản lý dự án của Viện Nghiêm cứu quản lý dự án Quốc tế (PMI) thì “Dự án là nỗ lực để hoàn thành công việc trong một thời gian nhất định có điểm bắt đầu và kết thúc để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc kết quả mong muốn”.
[1] Theo từ điển Oxford của Anh định nghĩa: Dự án (project) là một ý đồ, một nhiệm vụ đƣợc đặt ra, một kế hoạch vạch ra để hành động. [2] Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết đƣợc, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau. [3] Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9000:2000 thì dự án là một quá trình đơn nhất gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, đƣợc tiến hành để đạt đƣợc mục tiêu phù hợp với yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.2 Mục tiêu, kết quả Dự án. Tất cả các dự án thành công đều phải có mục tiêu, kết quả đƣợc xác định rõ ràng nhƣ xây dựng một toà nhà chung cƣ, một hệ thống mạng cơ quan, một hệ thống mạng cáp truyền hình Mỗi dự án bao gồm tập hợp các nhiệm vụ cần thực hiện, mỗi nhiệm vụ cụ thể khi thực hiện sẽ thu đƣợc kết quả độc lập và tập hợp các kết quả đó tạo thành kết quả chung của dự án.
Các kết quả có thể theo dõi, đánh giá bằng hệ thống các tiêu chí rõ ràng. Nói cách khác, dự án bao gồm nhiều hợp phần khác nhau đƣợc quản lý, thực hiện trên cơ sở đảm bảo thống nhất các chỉ tiêu về thời gian, nguồn lực (chi phí) và chất lƣợng.3 Đặc tính của dự án. Thời gian tồn tại của dự án có tính hữu hạn, dự án có tính ràng buộc về chi phí và nguồn lực. Giống nhƣ các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và kết thúc.
Nó không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án 3 Tieu luan đƣợc chuyển giao, đƣa vào khai thác sử dụng, tổ chức dự án giải thể. Mỗi dự án đều dùng một lƣợng nguồn lực nhất định để thực hiện. Nó bao gồm nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (thiết bị, nguyên liệu) và tài lực.4 Sản phẩm, kết quả của dự án.
Khác với các quá trình sản xuất liên tục có tính dây chuyền, lặp đi lặp lại, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có tính mới, đặc thù thể hiện sức sáng tạo của con ngƣời. Do đó, sản phẩm và dịch vụ thu đƣợc từ dự án là duy nhất, hầu nhƣ khác biệt so với các sản phẩm cùng loại. Tuy nhiên, trong nhiều dự án, tính duy nhất thƣờng khó nhận ra. Vì vậy, mỗi dự án cần phải tạo ra những giá trị mới chẳng hạn thiết kế khác nhau, môi trƣờng triển khai khác nhau, đối tƣợng sử dụng khác nhau Từ đó cho thấy nếu 2 dự án hoàn toàn giống nhau và không tạo đƣợc giá trị nào mới, nó thể hiện có sự đầu tƣ trùng lặp, gây lãng phí, đây là tình trạng phổ biến của các dự án nói chung, dự án Công nghệ thông tin (CNTT) nói riêng.5 Quá trình thực hiện dự án.
Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ nhà bảo trợ (chủ đầu tƣ), khách hàng (đơn vị thụ hƣởng), các nhà tƣ vấn, nhà thầu (đơn vị thi công, xây dựng) và trong nhiều trƣờng hợp có cả cơ quan quản lý nhà nƣớc đối với các dự án sử dụng nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc. Tuỳ theo tính chất của dự án và yêu cầu của nhà bảo trợ mà sự tham gia của các thành phần trên có sự khác nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thƣờng xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. Mỗi dự án đều là một nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn.
Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa dự án với nhiệm vụ công việc mang tính trùng lặp. Mỗi dự án nên căn cứ vào điều kiện cụ thể để tiến hành quản lý hệ thống và việc thực hiện dự án phải có tính trình tự và giai đoạn.6 Dự án thường mang tính không chắc chắn. Hầu hết các dự án đ i hỏi phải sử dụng lƣợng tiền vốn, vật liệu và lao động với quy mô rất lớn trong một khoảng thời gian giới hạn. Đặc biệt đối với các dự án CNTT, nơi mà công nghệ thay đổi cứ sau 18 tháng, thời gian đầu tƣ và vận hành kéo dài thƣờng xuất hiện nguy cơ rủi ro rất cao.
Vì thế trƣớc khi thực hiện dự án cần phân tích đầy đủ các nhân tố bên trong và bên ngoài mà chắc chắn sẽ ảnh hƣởng tới dự án. Trong quá trình thực hiện mục tiêu dự án cũng cần tiến hành quản lý có hiệu quả nhằm tránh những sai sót xảy ra.