Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý báu của quốc gia, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn về kinh tế - xã hội. Do vậy tài nguyên rừng cần được quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững và đây cũng là xu thế phát triển lâm nghiệp của thế giới hiện nay. Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp. Như vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân.
Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu cư dân thuộc nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn. Tuy diện tích rừng có tăng nhưng chất lượng rừng tự nhiên cũng như rừng trồng còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và phòng hộ. Hiện trạng diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc còn 6,76 triệu ha, trong đó đất trống đồi núi trọc là 6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước, chủ yếu là đất thoái hóa. Đây là nguồn tài nguyên tiềm năng nhưng đồng thời cũng là thách thức cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt công tác bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi toàn quốc đã ngăn chặn được tình trạng suy thoái về diện tích và chất lượng rừng, diện tích rừng tăng từ 9,30 triệu ha năm 1995 lên 11,31 triệu ha năm 2000 và 12,61 triệu ha năm 2005 (bình quân tăng 0,3 triệu ha/năm). Hiện nay bình quân mỗi năm trồng mới được khoảng 200. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt khoảng 2.000 khối gỗ /năm để cung cấp nguyên liệu cho chế biến hàng lâm sản xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Hoạt động sản xuất của ngành lâm nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền lâm nghiệp quốc doanh, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền lâm nghiệp xã hội hoá với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế n 2 của nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
Do đó, ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực tạo việc làm, cải thiện đời sống cho gần 25% dân số của Việt Nam sống trên địa bàn rừng núi, góp phần bảo đảm an ninh chính trị xã hội, tạo đà phát triển chung cho đất nước trong các năm qua. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những tồn tại, đặc biệt diện tích rừng tuy có tăng nhưng chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy giảm, ở một số nơi diện tích rừng tiếp tục bị tàn phá. Vì vậy, trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 đã xác định: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp. Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của trái đất.
Mặt khác, sinh vật và hệ sinh thái là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, công cụ, nhiên liệu,… Do vậy, hệ sinh thái bị suy giảm sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực làm cho con người phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo, suy giảm nguồn gen và đặc biệt là biến đổi khí hậu dẫn đến hang loạt các thảm hoại tự nhiên đe dọa cuộc sống của con người. Tinh hình hiện nay cho thấy việc khôi phục bảo vệ các hệ sinh thái, nguồn tài nguyên rừng, sự đa dạng loài và đa dạng di truyền để bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong cảu các loài quý hiếm và môi trường trong sạch cảu chúng ta là việc làm cấp bách. Huyện Yên Thế là một huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang cũng có rừng bị suy giảm giống như tình trạng chung của các nước. Năm 2008 diện tích rừng 14.230,40 ha, năm 2009 diện tích rừng của huyện là 14.298,50 ha nhưng cho đến năm 2013 diện tích rừng của huyện chỉ còn 12.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp góp phần quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Yên Thế - Tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015’’ 1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận và thực trạng về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Yên Thế nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015. Mục tiêu nghiên cứu n 3 - Nghiên cứu các văn bản đã được thực hiện triển khai có liên quan đến công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đề xuất được các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011 - 2015. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Rèn luyện kĩ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học. Biết vận dụng những kiến thức đã học áp dụng vào thực tiễn, được rèn luyện những kỹ năng làm việc, và các kỹ năng khác trước khi tốt nghiệp.
Có cách nhìn khách quan hơn về công tác QLBVR trong thực tế, từ đó có những có sở phục vụ cho nghiên cứu sâu hơn về QLBVR. Là tài liệu tham khảo cho các bạn học viên tham gia nghiên cứu khoa hoc, thực tập tốt nghiệp liên quan. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu đề tài này không chỉ giúp cho chính người nghiên cứu, mà còn cho người dân trên địa bàn nghiên cứu hiểu được tầm quan trọng của rừng và vấn đề cấp thiết trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. Áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao được hiệu quả trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại đại bàn nghiên cứu.
Góp phần bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu + Khái niệm về quản lý rừng bền vững Từ lâu việc quản lý rừng bền vững đã được các nhà lâm học xem là vấn đề cơ bản của kinh doanh rừng. Phần lớn các học thuyết về rừng đều hướng vào phân tích những quy luật sinh trưởng, phát triển của cá thể và quần thể rừng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên và những tác động kỹ thuật của con người làm cơ sở để xây dựng những biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao năng xuất và tính ổn định của hệ sinh thái rừng.
Những kiến thức liên quan đến quản lý rừng bền vững được trình bày trong nhiều môn học khác nhau như trồng rừng, lâm sinh, điều tra quy hoạch rừng… Tuy nhiên do những năm gần đây, do nhận thức được vai trò quan trọng của rừng với môi trường và sự phát triển bền vững nói chung, và vấn đề quản lý rừng quản lý rừng bền vững nói riêng, được mọi người quan tâm nhiều hơn trong đó có cả những chuyên gia lâm nghiệp, chủ rừng, chính quyền và nhiều tổ chức kinh tế - xã hội khác. Theo tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) thì “QLBVR là quá trình quản lý những diện tích rừng cố định, nhằm đạt được những mục tiêu là đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ của rừng như mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng xuất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực của những môi trường vật lý và xã hội”. Theo tiến trình Helsinki thì “ quản lý rừng và đất rừng một cách hợp lý để duy trì tính đa dạng sinh học, năng xuất, khẳ năng tái sinh, sức sống của rừng. Đồng thời duy trì tiềm năng thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái của chúng trong hiện tại cũng như trong tương lai, ở cấp địa phương, cấp quốc gia toàn cầu, không gây ra các tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
Hai khái niệm này đã nêu lên được mục tiêu chung của QLBVR đạt được sự ổn định về diện tích, bền vững về tính đa dạng sinh học, về năng xuất kinh n 5 tế và đảm bảo hiệu quả về môi trường sinh thái của rừng. Tuy nhiên, vấn đề QLRBV cũng phải đảm bảo tính linh hoạt khi áp dụng những biện pháp quản lý rừng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương được quốc gia và quốc tế chấp nhận. Như vậy, QLBVR được hiểu là hoạt động nhằm ngăn chặn mất rừng, mà trong đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chất lượng rừng, đồng thời duy trì và phát huy được chức năng bảo vệ môi trường sinh thái lâu bền đối với con người va thiên nhiên. Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng thời về các giá trị về mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng.
Hệ thống những biện pháp kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ phục vụ quản lý rừng bền vững thường được xây dựng trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cụ thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của mỗi địa phương. Mục tiêu cơ bản của QLBVR là đồng thời đạt được bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về môi trường (tổ chức FSC 2011) [7]. Nội dung cơ bản của những thuật ngữ này như sau: Bền vững về kinh tế: Lợi ích mang lại lớn hơn chi phí đầu tư và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bền vững về xã hội: Phản ánh sự liên hệ giữa sự phát triển tài nguyên rừng và tiêu chuẩn xã hội, không diễn ra ngoài sự chấp thuận của cộng đồng.
Bền vững về môi trường: đảm bảo hệ sinh thái ổn định, gìn giữ bảo toàn sản phẩm của rừng, đáp ứng khả năng phục hồi rừng trên quá trình tự nhiên. Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì hiệu quả về mặt môi trường của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị kinh tế.