Đặt vấn đề Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với con người, rừng có thể điều hòa khí hậu, giảm thiên tai, bão lũ, hiệu ứng nhà kính…là nơi chú ẩn của động vật, làm thức ăn cho động vật và cả con người. Đặc biệt các loài thực vật rừng còn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người như cung cấp các nguyên liệu cho xây dựng, các ngành công, nông nghiệp, cho các chất tinh dầu, chất béo, là thuốc, làm cảnh và nhiều tác dụng khác. Tuy hiện nay cuộc sống đã có phần được cải thiện nhưng rừng vẫn là người bạn đem đến những nét văn hóa, xã hội, kinh tế cho người dân nơi đây. Những sản phẩm từ rừng nói chung và lâm sản ngoài gỗ nói riêng, được người dân thu hái có giá trị rất cao trong cuộc sống, cũng như trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân.
Ngoài ra lâm sản ngoài gỗ cũng là sản phẩm hàng hóa nhằm làm tăng thu nhập của cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng. Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhận thức của con người về lâm sản ngoài gỗ cũng khác đi, họ chuộng những sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hơn là những sản phẩm được điều chế từ những nguyên vật liệu khác, do đó việc mua bán lâm sản trên thị trường càng trở nên mạnh mẽ và sôi động hơn. Và thật sự lâm sản ngoài gỗ là một nguồn tài nguyên có giá trị trong việc phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, do đó nhu cầu sử dụng đối với các loài đặc sản đó ngày càng cao hơn. Trong bối cảnh hiện nay, với hàng loạt các chính sách bảo vệ rừng được áp dụng thì các vườn quốc gia, các khu bảo tồn ngày một nhiều, việc quản lý khai thác các loại lâm sản của cán bộ kiểm lâm ngày một chặt chẽ hơn.
Việc đó e 2 khiến cho người dân gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vậy người dân sống gần rừng, họ phải khai thác, sử dụng các loại lâm sản như thế nào để lâm sản ngoài gỗ vừa có vai trò tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo, vừa phải đảm bảo cho mục tiêu bảo vệ và bảo tồn được các cơ quan, ban, ngành đặt ra? Từ những yêu cầu đó tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu giá trị tài nguyên thực vật trạng thái rừng phục hồi IIB tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên” nhằm đánh giá được giá trị tài nguyên thực vật của một số trạng thái thảm thực vật và từ đó đề xuất được các hướng giải pháp sử dụng, bảo vệ và tái sinh phù hợp. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau:. • Đánh giá được hiện trạng, trạng thái rừng phục hồi tự nhiên và thực trạng sử dụng nguồn TNTV rừng tại xã Hoàng Nông.
• Đánh giá được các giá trị tài nguyên thực vật đem lại lợi ích cho con người tại địa phương. • Đề xuất được một số giải pháp bảo vệ, quản lí nguồn TNTV rừng có giá trị tại xã Hoàng Nông. Ý nghĩa khoa học của đề tài Về mặt khoa học: Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý bảo tồn. Về mặt thực tiến: góp phần xác định được sự đa dạng về khu hệ thực vật của rừng đặc dụng, là cơ sở cho việc xác định giá trị của các loài thực vật tai khu rừng đặc dụng.
Thấy được sự đa dạng thực vật tai khu vực nghiên cứu và sự suy giảm đó do sợ tác động của con người. Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp ban quản lý khu rừng đặc dụng tốt hơn các tài nguyên ở đây. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niêm về TNTV Thực vật rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia.
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng. Tài nguyên thực vật rừng nước ta mới được nghiên cứu kể từ cuối thế kỷ thứ 19. Tổng quan về TNTV Việt Nam, là quốc gia có tiềm năng phát triển TNTV ở khu vực Châu Á, hiện có gần 1,6 triệu ha rừng đặc sản, với tổng sản lượng hàng năm lên đến trên 40. Trong đó, các nhà khoa học đã phát hiện có 3.830 loài cây thuốc, 500 loài cây tinh dầu, 186 loài thực vật đặc hữu chỉ có ở Việt Nam, 823 loài đặc hữu chỉ có ở Đông Dương.
Tài nguyên thực vật Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ, giai đoạn 2005-2007 giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ đem lại nguồn thu 400-500 triệu USD, bằng gần 20% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ. Khai thác, chế biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, chủ yếu là ở nông thôn, miền núi góp phần đáng kể vào xoá đói, giảm nghèo ở các địa phương có rừng và đất rừng. Tuy nhiên, việc sử dụng rừng chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên sẵn có, ít quan tâm đến bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật. Điều này dẫn đến nguồn tài nguyên rừng ở khu vực ngày càng cạn kiệt, tất yếu sẽ làm suy giảm tính đa dạng sinh học của rừng và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người dân sống dựa vào rừng.
Theo định nghĩa của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO) năm 1999, TNTV là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật (không kể gỗ công nghiệp) có ở e 4 rừng, đất rừng và cả các cây cối bên ngoài rừng. Giá trị của TNTV - Giá trị về mặt kinh tế: trên thế giới có khoảng 150 loài TNTV có giá trị kinh tế, giá trị trao đổi nằm khoảng 5 đến 10 tỷ đô la (1990). Giá trị về mặt kinh tế của TNTV không những thể hiện ở giá trị trao đổi hàng hoá mà TNTV còn là nguồn thu nhập, nguồn sống của các gia đình, cộng đồng sống gần rừng vàphụ thuộc vào rừng. TNTV không những góp phần vào bữa ăn của người dân mà còn được chế biến làm thuốc chữa bệnh, đó là một nguồn dược liệu hiệu quả và rẻ tiền.
Theo đánh giá của cơ quan y tế thế giới (WHO) thì 80% dân số các nước đang phát triển dùng TNTV để chữa bệnh và làm thực phẩm. - Giá trị về mặt xã hội: TNTV góp phần vào ổn định và an ninh cho đời sống người dân phụ thuộc vào rừng. TNTV tạo ra thu nhập thường xuyên cho người dân, tạo công ăn việc làm tại chỗ, giải quyết đói và thiếu thực phẩm. - Giá trị về mặt môi trường: TNTV góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái.
Không những thế TNTV còn góp phần vào gián tiếp bảo vệ rừng, nguồn nước. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo Queiroz Junior (2001) điều tra về giá trị tài nguyên Cây thuốc phổ biến được sử dụng trong nước Brazil. Trong báo cáo này có 628 loài sử dụng làm thuốc được mô tả cho 290 phương thuốc dân gian dựa trên 114 loài thực vật thuộc 50 họ và 99 chi.
Truyền thống địa phương về việc sử dụng của các nhà máy trong y học nổi tiếng vẫn còn rộng rãi và khá đa dạng. Các họ có số lượng cao nhất của báo cáo loài dược liệu là Asteraceae. Cho thấy sự phân bố của các loài dược liệu tùy theo diện tích của rừng. Những dữ liệu này cho thấy 42 loài chiếm 36.
là rừng nguyên sinh, trong đó 5,3% cũng được trồng bởi e 5 người dân địa phương và 5,3% cũng là tự phát trong thảm thực vật thứ. Cây dược độc quyền thu thập từ các vùng cây thứ cấp là 4,4% và những người tự phát trong vườn thực vật thứ yếu là 14,0%. Nhìn chung, 44,7% được trồng. Phần lớn các cây trồng là các loài ngoại lai đã trở thành thích nghi được với khu vực.
Các dữ liệu cho thấy rằng 55,3% của tất cả các loài báo cáo được thu thập một cách dễ dàng trong khu vực nghiên cứu. Và thu thập được trên 290 phương thuốc thảo dược được người dân lựa chọn để sử dụng điều trị một về hệ tiêu hóa, bệnh truyền nhiễm, điều trị hô hấp…Trên cơ sở dữ liệu của chúng tôi, có thể khẳng định rằng người dân của các cộng đồng nông thôn và thành thị trong khu vực rừng nhiệt đới Đại Tây Dương có một kiến thức tuyệt vời của cây thuốc. Từ đó cho thấy sự đa dạng thảo dược cao của cây thuốc trong rừng nhiệt đới Đại Tây Dương cũng như tiềm năng lớn cho thương mại và hơn nữa các nghiên cứu về dược học, độc tố và các chất hóa học của các loại thuốc mới [10]. Theo ước tính của (WHO, 1985), có khoảng 7000 loài cây thuốc ở Trung Quốc và 150 của những người dân sử dụng phổ biến nhất đã được lựa chọn tài nguyên cây thuốc ở nơi đây.
Trong suốt thế giới ngày nay, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, mọi người nhận ra giá trị của cây thuốc trong điều trị và ngăn ngừa các bệnh thông thường. Có bốn lý do chính cho chấp nhận rộng rãi này: Cây dược liệu đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ không kể xiết và đã chứng minh đáng tin cậy và hiệu quả trong việc điều trị và ngăn ngừa bệnh tật. Hầu hết các loài cây thuốc này không độc, và do đó làm phát sinh ít, nếu có, tác dụng phụ; ngay cả khi một số tác dụng phụ nào xảy ra, chúng e 6 ít nghiêm trọng hơn so với những người gây ra bởi các loại thuốc tổng hợp hóa học. Người dân sống ở khu vực nông thôn, miền núi có thể dễ dàng truy cập đến các phương thuốc địa phương, do đó việc sử dụng chúng trong việc ngăn ngừa và kiểm soát bệnh có chi phí ít hơn nhiều so với khi y học phương Tây là sử dụng và do đó mang lại lợi ích kinh tế cho các nước đang phát triển.
Cây dược liệu là một nguồn quan trọng của thực tiễn và các loại thuốc mới không tốn kém cho người dân trên toàn thế giới. Theo điều tra sơ bộ, có hơn 7000 loài cây thuốc ở Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc nổi tiếng với hệ thống độc đáo của y học cổ truyền, cây thuốc là một phương tiện quan trọng của việc điều trị và ngăn ngừa bệnh trong cả nước. Các lý thuyết chi phối việc kê đơn cây thuốc được lấy từ dược truyền thống của Trung Quốc, chính nó dựa vào thế kỷ dài của quan sát lâm sàng và thực hành.