Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái đất ngập nước trên toàn cầu ước tính đạt diện tích khoảng 1.280 triệu ha, chiếm xấp xỉ 9% diện tích bề mặt Trái Đất và cung cấp nguồn dịch vụ sinh thái trị giá lên tới 14.000 tỷ USD mỗi năm. Tại Việt Nam, hệ thống đất ngập nước sở hữu quy mô hơn 10 triệu ha phân bố rộng khắp các vùng sinh thái, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1985–2005, cả nước đã mất đi 183.724 ha rừng ngập mặn tự nhiên do áp lực đô thị hóa và sự bùng nổ của diện tích nuôi trồng thủy sản lên mức 1,1 triệu ha.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, xã Bình Phước thuộc huyện Bình Sơn có tổng diện tích tự nhiên 2.345,71 ha với 100,71 ha đất ngập nước, trong đó quần xã dừa nước tập trung chủ yếu tại sông Thái Cân với diện tích 73,75 ha. Mặc dù đóng vai trò như một đai rừng phòng hộ ven biển xung yếu, hệ sinh thái này đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất và tiếp nhận nguồn nước thải công nghiệp chưa qua xử lý triệt để.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sĩ sinh thái học của tác giả Lê Anh Kiệt dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Minh tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã được triển khai từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2018. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá mức độ nhận thức của cộng đồng dân cư đối với 18 dịch vụ hệ sinh thái, lượng hóa tổng giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp quản lý bền vững. Kết quả nghiên cứu xác định tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái dừa nước xã Bình Phước đạt xấp xỉ 4,112 tỷ đồng/năm, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng vững chắc giúp chính quyền địa phương hoạch định chính sách sử dụng khôn khéo đất ngập nước cho 2.097 hộ dân với 6.746 nhân khẩu trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV) để phân loại toàn diện các nguồn lợi từ đất ngập nước. Khung TEV cấu thành từ hai trụ cột chính: giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp (khai thác thủy sản, lâm sản), giá trị sử dụng gián tiếp (điều hòa vi khí hậu, hạn chế lũ lụt, cung cấp nước tưới) và giá trị tùy chọn trong tương lai. Giá trị phi sử dụng đại diện cho giá trị để lại cho các thế hệ mai sau và giá trị bảo tồn sự tồn tại của các loài sinh vật.

Đồng thời, luận văn tích hợp khung phân loại của Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ (Millennium Ecosystem Assessment - MA, 2005) và mô hình chức năng đất ngập nước của Barbier (1994), chia dịch vụ sinh thái thành 4 nhóm: dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ. Nghiên cứu quán triệt nguyên tắc "Sử dụng khôn khéo" của Công ước Ramsar năm 1971, kết hợp cùng các căn cứ pháp lý tại Việt Nam như Nghị định số 109/2003/NĐ-CP, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Hệ sinh thái dừa nước tại lưu vực sông Trà Bồng thể hiện tính đa dạng sinh học phong phú, là nơi cư trú của 26 loài chim thuộc 15 họ và 27 loài cá thuộc 16 họ, thích nghi hoàn hảo với độ mặn biến thiên từ 1‰ đến 20‰ theo mùa cạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2018:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành điều tra ngẫu nhiên kết hợp phân tầng trên quy mô mẫu gồm 156 người dân đại diện cho các hộ gia đình tại 3 thôn trọng điểm là Phú Long 1, Phú Long 2 và Phú Long 3. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm tính đại diện cao về độ tuổi lao động, giới tính, cơ cấu nghề nghiệp (khai thác thủy sản, nông nghiệp, lâm nghiệp, cán bộ quản lý) và 5 nhóm mức thu nhập từ dưới 1 triệu đến trên 10 triệu đồng/tháng. Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá tầm quan trọng của 18 dịch vụ sinh thái.
  • Phương pháp xử lý thống kê: Dữ liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20 và MS Excel. Nghiên cứu áp dụng kiểm định Chi-Square với mức ý nghĩa alpha = 0,10 (chuẩn mực trong phân tích xã hội học môi trường) nhằm kiểm tra sự khác biệt nhận thức giữa các nhóm nhân khẩu học. Kiểm định Explore với mức ý nghĩa alpha = 0,05 được sử dụng để phân tích sâu các biến định lượng có độ phân hóa cao.
  • Phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên: Sử dụng phương pháp giá thị trường thực tế (Market Price Method) để tính toán giá trị sử dụng trực tiếp từ đánh bắt thủy sản tự nhiên, nuôi tôm bán tự nhiên trên 0,7 ha và khai thác lá dừa. Đối với giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị bảo tồn, luận văn áp dụng phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống giả định (Contingent Valuation Method - CVM) kết hợp mô hình hồi quy đa biến nhằm lượng hóa mức sẵn lòng chi trả (Willingness to Pay - WTP) của người dân địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng giá trị kinh tế (TEV) mà hệ sinh thái dừa nước xã Bình Phước mang lại đạt khoảng 4,112 tỷ đồng/năm trên diện tích 73,75 ha. Trong đó, các giá trị sử dụng trực tiếp từ nguồn lợi thủy sản và khai thác lá dừa chiếm tỷ trọng chủ đạo, đóng vai trò bảo đảm an ninh sinh kế cho các cộng đồng cư dân ven sông. Nguồn nước từ hệ sinh thái còn cung cấp trực tiếp cho 349,2 ha diện tích gieo sạ lúa và 343 ha đất trồng hoa màu của toàn xã.

Thứ hai, nhận thức của người dân về các dịch vụ hệ sinh thái có sự phân tầng rõ rệt:

  • Giá trị văn hóa, lịch sử được đánh giá cao nhất với 78,8% người dân lựa chọn mức 5 (rất quan trọng), minh chứng cho sự gắn bó lâu đời của rừng dừa nước trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.
  • Các giá trị điều tiết và bảo vệ môi trường đạt tỷ lệ đồng thuận cao: chắn gió bão đạt 58,3%, cung cấp nước ngọt đạt 58,3%, điều hòa không khí đạt 57,7%, cung cấp nguồn nước tưới đạt 57,7%, cung cấp bãi sinh sản cho thủy sản đạt 51,3% và cung cấp nơi cư trú cho động vật đạt 50,6%.
  • Ngược lại, giá trị cung cấp dược liệu có 46,2% người đánh giá ở mức 1 (không quan trọng) và giá trị lưu giữ cacbon có 32,1% người chọn mức 1 do các chức năng này đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu và khó nhận biết trực tiếp.

Thứ ba, kiểm định thống kê chỉ ra rằng trình độ học vấn là yếu tố chi phối mạnh nhất đến nhận thức, chiếm tỷ lệ 56% các chỉ tiêu có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p < 0,10). Nhóm có trình độ tiểu học nhận diện tốt các giá trị khai thác trực quan như thực phẩm và nước tưới. Trong khi đó, nhóm có trình độ đại học và cán bộ quản lý thể hiện sự hiểu biết vượt trội về dịch vụ lọc nước, điều hòa chu trình nước, lưu giữ cacbon và giá trị nghiên cứu khoa học.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét bức tranh tổng thể, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ cột thể hiện tần suất phân hạng 18 dịch vụ sinh thái và bảng phân tích tương quan hồi quy giữa mức thu nhập với chỉ số WTP. Tỷ trọng giá trị trực tiếp chiếm ưu thế tại Bình Phước tương đồng với các kết quả nghiên cứu tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (tổng giá trị 89 tỷ đồng/năm với giá trị trực tiếp chiếm 92,3%) và rừng ngập mặn Rú Chá tại Thừa Thiên Huế (tổng giá trị khoảng 1,25 tỷ đồng/năm với giá trị trực tiếp chiếm 93,71%).

Sự so sánh này khẳng định tính quy luật tại các vùng đất ngập nước ven biển miền Trung: cộng đồng bản địa luôn phụ thuộc mật thiết vào nguồn lợi sinh khối tự nhiên. Tại các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, nghiên cứu tại vịnh Pak Phanang cho thấy 90% hộ dân khai thác mật dừa nước mang lại thu nhập lên tới 1.350 USD/hộ/năm, hay tại Indonesia 1 ha dừa nước tạo ra 220 USD từ lá non. So với tiềm năng quốc tế, giá trị kinh tế của rừng dừa nước Bình Phước mới dừng lại ở mức khai thác thô sơ. Áp lực từ độ mặn mùa cạn đạt mức 20‰ tại vị trí cách cửa Sa Cần 2 km cùng tác động từ nước thải công nghiệp đòi hỏi địa phương phải nhanh chóng chuyển dịch mô hình quản lý sang hướng bảo tồn đa giá trị.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả lượng giá và khảo sát thực địa, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm quản lý, bảo tồn và khai thác bền vững hệ sinh thái dừa nước xã Bình Phước:

  1. Quy hoạch phân khu và bảo vệ nghiêm ngặt 73,75 ha rừng dừa nước: Ủy ban nhân dân huyện Bình Sơn phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi tiến hành cắm mốc ranh giới bảo vệ, nghiêm cấm tuyệt đối hành vi chặt phá, chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nuôi trồng thủy sản tự phát. Đặt mục tiêu duy trì độ che phủ và phục hồi bổ sung 10–15 ha diện tích dừa nước dọc sông Thái Cân trong giai đoạn 2019–2023.
  2. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa và trạm quan trắc môi trường: Thiết lập bản đồ số GIS quản lý hiện trạng 100,71 ha đất ngập nước toàn xã, tổ chức quan trắc chất lượng nước định kỳ 3 tháng/lần trên lưu vực sông Trà Bồng. Mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 40% lượng chất thải hữu cơ và hóa chất công nghiệp xâm nhập vào hệ sinh thái, do Chi cục Bảo vệ Môi trường chủ trì thực hiện.
  3. Phát triển chuỗi giá trị sinh kế và du lịch sinh thái cộng đồng: Ủy ban nhân dân xã Bình Phước liên kết với các doanh nghiệp lữ hành triển khai mô hình du lịch trải nghiệm chèo thuyền, câu cá giải trí và chuyển giao công nghệ khai thác mật nhựa dừa nước làm đường, đồ uống đặc sản. Phấn đấu nâng thu nhập bình quân của 2.097 hộ dân địa phương từ mức 8 triệu đồng/người/năm lên trên 15 triệu đồng/người/năm vào năm 2025.
  4. Đẩy mạnh truyền thông và nâng cao năng lực cộng đồng: Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên xã tổ chức tối thiểu 12 lớp tập huấn chuyên đề hàng năm về dịch vụ hệ sinh thái và vai trò hấp thụ khí nhà kính. Mục tiêu nâng tỷ lệ nhận thức của người dân về giá trị lưu giữ cacbon từ mức 32,1% lên trên 75% trong vòng 2 năm triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực và phương pháp luận chuẩn mực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các đơn vị như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân huyện Bình Sơn có thể khai thác số liệu lượng hóa 4,112 tỷ đồng/năm để lồng ghép vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, xây dựng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) và thiết lập hạn ngạch khai thác thủy hải sản.
  • Nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Sinh thái, Môi trường: Tài liệu cung cấp một ca nghiên cứu thực tế hoàn chỉnh về việc áp dụng tích hợp phương pháp đánh giá nhanh TESSA, mô hình CVM và các kiểm định thống kê Chi-Square (alpha = 0,10), Explore (alpha = 0,05) trong phân tích dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước ven biển miền Trung.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên: Các tổ chức như IUCN, WWF có thể sử dụng dữ liệu đa dạng sinh học gồm 26 loài chim và 27 loài cá để xây dựng các hồ sơ tài trợ dự án bảo tồn nguồn gen, phục hồi sinh thái rừng ngập mặn và hỗ trợ mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu cho 6.746 người dân bản địa.
  • Doanh nghiệp du lịch và các hợp tác xã nông nghiệp: Đơn vị kinh doanh có thể tận dụng lợi thế cảnh quan thiên nhiên và bề dày văn hóa lịch sử được 78,8% cộng đồng khẳng định để đầu tư hạ tầng du lịch xanh, phát triển sản phẩm OCOP từ dừa nước có giá trị kinh tế cao.

Câu hỏi thường gặp

Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái dừa nước tại xã Bình Phước được ước tính là bao nhiêu mỗi năm?

Theo kết quả lượng giá trong luận văn, tổng giá trị kinh tế của 73,75 ha rừng dừa nước tại xã Bình Phước đạt khoảng 4,112 tỷ đồng/năm. Nguồn giá trị này bao gồm các lợi ích sử dụng trực tiếp từ đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, khai thác lá dừa và giá trị gián tiếp từ việc cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ tưới tiêu cho 349,2 ha đất canh tác nông nghiệp.

Tác giả đã sử dụng những phương pháp kinh tế môi trường nào để lượng hóa các giá trị?

Tác giả đã kết hợp phương pháp giá thị trường thực tế để tính toán doanh thu trực tiếp từ lâm sản và thủy sản, cùng phương pháp đánh giá phụ thuộc tình huống giả định (CVM). Thông qua khảo sát mức sẵn lòng chi trả (WTP) của 156 người dân kết hợp phân tích hồi quy, nghiên cứu đã định lượng hóa thành công các giá trị điều tiết gián tiếp và giá trị bảo tồn cho tương lai.

Dịch vụ hệ sinh thái nào được người dân địa phương nhận thức cao nhất và thấp nhất?

Giá trị văn hóa, lịch sử được người dân nhận thức sâu sắc nhất với 78,8% người chọn mức rất quan trọng, tiếp theo là giá trị chắn gió bão và cung cấp nước ngọt đều đạt 58,3%. Trái lại, giá trị cung cấp dược liệu (46,2% chọn mức không quan trọng) và lưu giữ cacbon (32,1% chọn mức không quan trọng) có tỷ lệ nhận biết thấp nhất do tính chất trừu tượng của dịch vụ.

Yếu tố nhân khẩu học nào tạo ra sự khác biệt lớn nhất đến nhận thức của cộng đồng?

Trình độ học vấn là yếu tố có mức độ chi phối mạnh nhất, tạo nên sự phân hóa có ý nghĩa thống kê ở 56% các chỉ tiêu dịch vụ được khảo sát. Người có trình độ đại học và cán bộ quản lý nhận thức vượt trội về chức năng điều tiết khí hậu và hấp thụ cacbon, trong khi người có trình độ tiểu học chủ yếu nhận biết các giá trị cung cấp thực phẩm trực tiếp.

Những giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để bảo vệ bền vững rừng dừa nước Bình Phước?

Các giải pháp then chốt bao gồm: quy hoạch cắm mốc ranh giới bảo tồn 73,75 ha dừa nước, xây dựng hệ thống quan trắc kiểm soát ô nhiễm nước thải công nghiệp trên sông Trà Bồng, chuyển đổi mô hình sinh kế sang phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và nâng cao năng lực nhận thức môi trường cho 2.097 hộ dân địa phương.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công tổng giá trị kinh tế của 73,75 ha hệ sinh thái dừa nước tại xã Bình Phước đạt xấp xỉ 4,112 tỷ đồng/năm.
  • Khẳng định vai trò xung yếu của rừng dừa nước đối với đời sống văn hóa lịch sử (78,8%) và khả năng phòng hộ chắn gió bão (58,3%) cho 6.746 cư dân địa phương.
  • Phát hiện quy luật phân hóa nhận thức cộng đồng với 56% chỉ tiêu dịch vụ chịu ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê từ trình độ học vấn và đặc thù nghề nghiệp.
  • Thiết lập hệ thống dẫn liệu sinh học phong phú gồm 26 loài chim và 27 loài cá đặc trưng cho lưu vực sông Trà Bồng với độ mặn biến động từ 1‰ đến 20‰.
  • Đề xuất khung 4 nhóm giải pháp khả thi kết hợp hài hòa giữa quy hoạch không gian bảo tồn, đa dạng hóa sinh kế du lịch và truyền thông giáo dục môi trường.

Công trình là đóng góp học thuật tiên phong trong việc cung cấp luận cứ khoa học định lượng cho công tác bảo tồn đất ngập nước tại tỉnh Quảng Ngãi. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu hãy tham khảo, ứng dụng ngay kết quả của luận văn để thúc đẩy chính sách chi trả dịch vụ môi trường và xây dựng mô hình phát triển kinh tế xanh bền vững!