Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý rừng dựa vào cộng đồng Chương 2: Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý bảo VỆ rừng bền vững tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Các giải pháp thúc day sự tham gia của người dân vào quan lý bảo vệ rừng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa 6 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA QUAN LY RUNG DUA VAO CONG DONG 1.1 Cơ sở lý luận về quan lý rừng dựa vào cộng đồng 1.1 Khái niệm về cộng đồng Theo Câm nang ngành Lâm nghiệp (2006), “Cộng đồng được hiểu là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương dong về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thong, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn, bản”. Theo đó, cộng đồng được hiểu là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kế cả các tổ chức đoàn thé trong cộng đồng). Theo tác giả Dương Viết Tình, Trần Hữu Nghị (2012), hiện nay cộng đồng gồm các loại hình sau sau: “Thứ nhất, là cộng đồng các dân tộc: nước ta có 54 dân tộc, mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về mặt văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất. Thứ hai, là cộng đồng làng bản: Hiện nay cả nước có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại trong khoảng gan 9.000 xã được phân bồ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Thứ ba, là cộng đồng xã hội: như các hội đồng, cộng đồng tôn giáo, cộng đồng người Việt Nam sống ở nước ngoài.” Điều 5 của Luật Dat đai năm 2013 (sửa đổi luật đất đai 2003) quy định: “Cộng dong dân cư gồm cộng đông người Việt Nam sinh song trên cùng dia ban thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phá và điểm dân cư tương tu có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ ” 1.2 Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng Trên thế giới, quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) thường được sử dụng với những tên gọi khác nhau như: “Lâm nghiệp cộng đồng - Community Forestry”, “đồng quản lý rừng - Join Forest Management”, “lâm nghiệp xã hội - Social Forestry”, “quản lý rừng cộng đồng - Community Forest Management”, v. Dù với cách gọi nào thì về bản chất cho thấy người dân vẫn được “làm chủ” trong quá trình QLBVR và các hoạt động QLRCĐ vẫn không thay đôi. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc “FAO - Food and Agriculture Organization of United Nations” đưa ra khái niệm lần đầu tiên về QLRCD vào năm 1978. Đó là “bát kỳ hoạt động lâm nghiệp mà người dân địa phương được tham gia, bao gm những hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu câu cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trai cây hàng hóa, sản xuát chê biên các sản phâm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong rừng ”.
Tổ chức FERN - Forest and the European Union Resource Network (2005) khái quát QLRCD cô đọng và dễ hiểu hơn, đó là “tién trình quan lý, bảo vệ va phát triển rừng dựa vào những kiến thức bản địa, cấu trúc truyền thong, những lễ hội và luật tục cua công dong”. Nhu vay, QLRCD bao gom những hoạt động cua cộng đồng liên quan đến rừng, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR). Theo Cẩm nang Lâm nghiệp (2006a), tại Việt Nam tồn tại 2 loại hình QLRCĐ gồm: - QLR của cộng đồng: là hình thức mà cộng đồng tham gia vào quá trình quản lý TNR và được phân chia sản phẩm hoặc hưởng lợi ích từ rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng và sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sở hữu chung của cộng đồng. Đây là những khu rừng truyền thống lâu đời hay rừng trồng của hợp tác xã, rừng tự nhiên của hợp tác xã trước đây giao lại cho các xã, thôn quản lý.
Cộng đồng được hưởng lợi trực tiếp từ những khu rừng đó. - QLR dựa vào cộng đồng: là hình thức mà cộng đồng tham gia vào quản lý và hưởng lợi từ các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phan kinh tế khác nhưng có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, việc làm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng, v. Chia thành hai loại sau: + Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng. Cộng đồng hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện nhằm tạo thêm sức mạnh dé QLBVR.
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dung, sở hữu của các tổ chức nha nước và các tô chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng (Cam nang ngành lâm nghiệp, 2006a). Xét về phương diện quản lý, có thể khái quát, QLRCĐ hay đồng quản lý là “tinh huồng mà trong đó 2 hay nhiều hơn 2 chủ thé xã hội bàn bạc, xác định va dam bảo với nhau về việc chia sẻ một cách công bằng các chức năng quan Ly, lợi ích, nhiệm vụ và trách nhiệm doi với một khu vực hoặc các nguồn tài nguyên nào đó ” 1.3 Các hình thức quản lý rừng cộng đồng Hiện nay, QLRCD có những hình thức tô chức quản lý đa dạng, linh hoạt và mềm dẻo nhằm thúc đây sự tham gia của cộng động vào QLBVR trên tinh thần tự nguyện, hưởng lợi ích dài lâu. QLRCĐ được ứng dụng tùy thuộc vào điều kiện cụ thé của từng cộng đồng, từng địa phương được khái quát thành 3 hình thức sau đây: - Hình thức tổ chức QLR theo dòng tộc, dan tộc: do cộng đồng tự thừa nhận hoặc đã mặc nhiên công nhận từ các thế hệ trước trong việc tổ chức QLR và đất rừng.
Việc tô chức BVR được gn liền với những phong tục truyền thống của cộng đồng và tuân theo các quy tắc chung của dòng tộc. Cộng đồng rất coi trọng vị trí, vai trò của người “trưởng tộc” hay “gia làng”. Mặc nhiên các công việc trong QLR của họ đều được phân công rõ ràng và được thực hiện nghiêm túc, đôi khi không tránh khỏi mâu thuẫn giữa các dòng họ với nhau. - Hình thức tổ chức QLR theo thôn, làng, buôn, ấp (gọi chung là thôn): là hình thức QLRCĐ chủ yếu hiện nay, dựa trên cơ sở vi trí địa lý và khu vực người dân sinh sống.
Hau hết tại các thôn đều có quy ước về QLBVR cộng dong, thành lập lực lượng tuần tra BVR riêng biệt hoặc giữa các hộ gia đình trong thôn có sự luân phiên công việc với nhau. Hình thức quản lý này giúp huy động cộng đồng cùng tham gia vào QLBVR và có thé quan lý bất kể loại rừng nào. Mặc dù, hình thức này rất hạn chế trong việc chia sẻ lợi ích và phức tạp. Nhưng thực tiễn hiện nay chứng minh hình thức này là phù hợp nhất.
- Hình thức QLR theo nhóm hộ/nhóm sở thích: do một sô hộ gia đình cư trú liền nhau hay một số hộ gia đình có quan hệ huyết thống hoặc những cá nhân cùng lứa tuổi mong muốn được tham gia QLR. Nhóm hộ này tự thống nhất với nhau trong việc phân công BVR hoặc những nhóm hộ có rừng gần nhau sẽ cùng liên kết với nhau dé BVR. So với các hình thức phía trên thì hình thức này phù hợp với cộng đồng dân cư cấp thôn/bản và dễ dàng tô chức vì có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, khó dé bảo vệ các khu rừng ở vùng sâu, vùng xa.4 Sự tham gia của cộng đồng > Khái niệm sự tham gia Sự tham gia trong QLR va TNR là “sự tham gia có hiệu quả trong việc ban hành và thực hiện các quyết định, hoặc trực tiếp, hoặc thông qua các đại diện hợp pháp”.
> Các nic thang của sự tham gia Có 3 cấp độ thê hiện sự tham gia của cộng đồng gồm: “tham gia thực sự, tham gia hình thức và không tham gia”. Chỉ khi nào cộng đồng được tham gia thực sự thì họ mới được hưởng quyền lợi, được bày tỏ suy nghĩ và mong muốn của mình trong các quyết định. Được thể hiện chỉ tiết qua 8 nac thang dưới đây: Hình 1.1: Cấp độ tham gia của cộng đồng Kiêm soát Được trao quyền Đối tác Xoa địu Tham vấn Thông báo Trị liệu Lôi kéo dân chỉ nhận thông báo, bị áp đặt từ trên xuống và mang tính bắt buộc. Nac 3 — Thông báo, Nac 4— Tham vấn va Nac 5 — Xoa dịu: Thuộc mức độ tham gia hình thức.
Cũng có sự áp đặt từ trên xuống, tuy nhiên người dân đã được nêu ý kiến của mình nhưng không có quyền ra quyết định. Nac 6 — Đối tac, Nac 7 — Quyên lực đại diện va Nac 8 — Kiểm soát/tự huy động: Thuộc mức độ tham gia thực sự. Ở Nắc 6 và 7, người dân được trở thành đối tac với nhà nước và có ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Nac 8 cao nhất khi người dân được trao toàn quyền quyết định.
Tuy nhiên, theo quan điểm hiện đại thường nghiên cứu mô hình 5 cấp độ, “thé hiện mức độ tham gia của người dân trong các hoạt động quan lý được phát triển theo từng cấp độ và phụ thuộc vào quan hệ đối tác giữa Chính phủ và người dân - M. Dower đưa ra khái niệm phù hợp với khẩu 10 hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Chính phủ Việt Nam ban hành từ năm 1960. Phương thức QLRCD thé hiện như sau: Hình 1.2: Thang đo cấp độ tham gia của cộng đồng CHỦ TRÌ ĐÓI TÁC | CUNG THUC HIEN ĐƯỢC THAM VAN Nguồn: M. Dower (2004) (1) Cấp độ thông báo: Nha nước ra quyết định, thông báo va hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý.
(2) Cấp độ tham vấn: Cộng đồng cung cấp thông tin, nhà nước tham khảo ý kiến của cộng đồng dé đưa ra quyết định, thông báo và hướng dẫn cộng đồng tham gia quản lý. (3) Cấp độ cùng thực hiện: Cộng đồng có cơ hội và được phép tham gia thảo luận, góp ý kiến dé đưa ra quyết định và được tham gia quản lý. (4) Cấp độ đối tác: Nhà nước và cộng đồng cùng quản lý (5) Cấp độ chủ trì: Cộng đồng được Nhà nước trao quyền quản lý, Nhà nước chỉ thực hiện việc kiểm soát.