Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ, dược liệu và bảo tồn đa dạng sinh học. Tại Việt Nam, công tác quản lý bảo vệ rừng trước đây phần lớn do các cơ quan nhà nước, ban quản lý và nông lâm trường đảm nhiệm. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế gặp nhiều thách thức do lực lượng kiểm lâm mỏng (theo định mức mỗi cán bộ kiểm lâm quản lý tối đa 500 ha rừng), địa bàn quản lý rộng lớn, hiểm trở, trong khi nguồn kinh phí bảo vệ rừng còn hạn chế. Mặt khác, các cộng đồng dân cư sinh sống xen kẽ hoặc ven rừng có đời sống sinh kế, văn hóa gắn liền với tài nguyên rừng từ lâu đời, nhưng chưa được phát huy vai trò chủ thể một cách đầy đủ.

Huyện Thạch Thành là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa, có tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 27.666,06 ha (trong đó rừng sản xuất chiếm 18.065,92 ha, rừng phòng hộ 5.689,18 ha, rừng đặc dụng 3.910,96 ha). Trên địa bàn huyện có ba cộng đồng dân tộc cùng sinh sống là Kinh, Mường và Thái. Mặc dù các văn bản pháp luật như Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở số 34/2007/PL-UBTVQH11 hay Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 đã bước đầu công nhận cộng đồng địa phương là một thực thể tham gia quản lý, bảo vệ rừng, song mức độ tham gia thực tế của người dân tại Thạch Thành còn nhiều hạn chế do năng lực chưa đồng đều, cơ chế chia sẻ lợi ích chưa rõ ràng và chính sách giao đất giao rừng còn bất cập.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Thị Lan Anh đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài "Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa" thuộc ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Hà Thanh.

Đề tài xác định hệ thống mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng dân cư vào công tác quản lý, bảo vệ rừng bền vững tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá thực trạng về sự tham gia của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
    2. Phân tích những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng bền vững.
    3. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quản lý bảo vệ rừng bền vững và phát triển sinh kế cho người dân địa phương.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Hiện nay rừng tại huyện Thạch Thành đang được quản lý như thế nào?
    2. Cộng đồng dân cư đóng vai trò như thế nào trong việc quản lý tài nguyên rừng?
    3. Giải pháp nào thúc đẩy sự tham gia của người dân vào công tác quản lý bảo vệ rừng bền vững?
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của cộng đồng dân cư tại huyện Thạch Thành trong quản lý bảo vệ rừng bền vững.
    • Phạm vi không gian: Thực hiện tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, tập trung khảo sát sâu tại 4 thôn thuộc 2 xã có diện tích rừng lớn và dân cư đông đúc: Thôn Cẩm Bộ, Thôn Tự Cường (xã Thành Minh) và Thôn Tượng Liên 1, Thôn Tượng Phong (xã Thạch Tượng).
    • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu sơ cấp từ tháng 09/2021 đến tháng 11/2021, kết hợp các tài liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội và tài nguyên rừng năm 2020 - 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và văn bản pháp lý

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm và mô hình khoa học quản trị lâm nghiệp cộng đồng:

  • Khái niệm cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ): Sử dụng định nghĩa từ Cẩm nang ngành Lâm nghiệp (2006), Luật Đất đai năm 2013 (Điều 5), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1978) và Mạng lưới Tài nguyên Rừng và Liên minh Châu Âu (FERN, 2005). Tác giả phân định hai loại hình QLRCĐ chính tại Việt Nam: Quản lý rừng của cộng đồng (rừng thuộc quyền sở hữu chung của cộng đồng) và Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng tham gia bảo vệ và hưởng lợi trên diện tích rừng thuộc sở hữu của nhà nước hoặc tổ chức khác thông qua giao khoán).
  • Mô hình cấp độ tham gia: Vận dụng khung phân tích 8 nấc thang tham gia của Sherry Arnstein (1969) (nhóm thành 3 cấp độ: Không tham gia, Tham gia hình thức, Tham gia thực sự) kết hợp mô hình 5 cấp độ của M. Dower (2004) gắn với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" (Thông báo, Tham vấn, Cùng thực hiện, Đối tác, Chủ trì).
  • Hệ thống chính sách và pháp luật Việt Nam: Luật Đất đai 2003/2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP; Luật Lâm nghiệp 2017, Nghị định 156/2018/NĐ-CP, Nghị định 83/2020/NĐ-CP; Quyết định 18/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2006-2020; Quyết định 126/QĐ-TTg về chia sẻ lợi ích rừng đặc dụng; Quyết định 380/QĐ-TTg về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
  • Thực tiễn trong nước và quốc tế: Tổng hợp bài học từ Nepal (mô hình nhóm người sử dụng rừng CFUGs), Ấn Độ (cơ chế JFM và PFM), Thái Lan, cùng các dự án tại Việt Nam như Chương trình Thí điểm Quản lý Lâm nghiệp Cộng đồng tại 10 tỉnh (2006-2009), thí điểm chia sẻ lợi ích khai thác gỗ tại Tây Nguyên (phân chia 90% lợi nhuận cho cộng đồng và 10% cho UBND xã), dự án KfW7 tại tỉnh Hòa Bình.

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết lâm nghiệp năm 2020 từ UBND huyện Thạch Thành, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm Thạch Thành và UBND các xã nghiên cứu.
  2. Phương pháp điều tra xã hội học (Dữ liệu sơ cấp):
    • Chọn mẫu: Lựa chọn có chủ đích 2 xã có diện tích rừng lớn và đại diện đủ 3 dân tộc (Kinh, Mường, Thái) là xã Thành Minh và xã Thạch Tượng. Phỏng vấn trực tiếp tại 4 thôn (Cẩm Bộ, Tự Cường thuộc xã Thành Minh; Tượng Liên 1, Tượng Phong thuộc xã Thạch Tượng).
    • Kích thước mẫu: Phát ra 100 phiếu điều tra (25 phiếu/thôn). Sau quá trình làm sạch dữ liệu, loại bỏ các phiếu không hoàn thành do rào cản ngôn ngữ, thu về 92 phiếu hợp lệ (50 phiếu tại xã Thành Minh và 42 phiếu tại xã Thạch Tượng). Thời gian khảo sát từ 28/09/2021 đến 04/10/2021.
  3. Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, thảo luận trực tiếp với cán bộ Phòng TN&MT, Phòng NN&PTNT và Hạt Kiểm lâm huyện nhằm kiểm chứng thông tin hiện trường.
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word để nhập liệu, thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và tổng hợp bảng biểu.
  5. Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự tham gia của cộng đồng địa phương trong bảo vệ rừng.
  6. Khung lượng hóa mức độ tham gia: Thiết kế bộ công cụ chấm điểm gồm 7 chỉ số (thuộc 5 tiêu chí: Hoạt động QLBVR; Hoạt động PCCCR; Vai trò họp thôn; Tuần tra rừng; Báo tin phối hợp) với thang điểm tổng từ 0 đến 25 điểm, chia thành 3 mức độ:
    • Ít hoặc không tham gia: 0 đến 8 điểm.
    • Tham gia hình thức: 9 đến 17 điểm.
    • Tham gia thực sự: 18 đến 25 điểm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Chương 1 hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và bài học kinh nghiệm quốc tế, trong nước về quản trị rừng có sự tham gia của cộng đồng.

  • Về mặt lý thuyết: Tác giả phân tích 3 hình thức tổ chức quản lý rừng cộng đồng phổ biến gồm: quản lý theo dòng tộc/dân tộc (gắn với già làng, trưởng bản), quản lý theo thôn/bản (hình thức phổ biến nhất hiện nay nhờ tính bao quát địa giới hành chính) và quản lý theo nhóm hộ/nhóm sở thích. Luận điểm cốt lõi chỉ ra rằng việc chuyển dịch từ cơ chế quản lý tập trung độc quyền của nhà nước sang đồng quản lý giúp tận dụng tri thức bản địa, nâng cao hiệu quả giám sát và giảm chi phí ngân sách.
  • Về mặt thực tiễn: Khảo cứu kinh nghiệm từ Nepal (giao 61% diện tích rừng cho 13.000 nhóm CFUGs, đảo ngược tốc độ mất rừng từ -1,9% thành tăng trưởng +1,35%/năm giai đoạn 2000-2005), Ấn Độ và Thái Lan cho thấy sự công nhận quyền sử dụng đất và quyền hưởng lợi kinh tế là điều kiện tiên quyết để người dân gắn bó với rừng. Tại Việt Nam, các mô hình thí điểm tại Tây Nguyên (cơ chế phân chia 90% giá trị khai thác gia tăng cho cộng đồng) và dự án KfW7 tại Hòa Bình (chuyển giao 5.206,71 ha rừng trồng, lập 2.970 tài khoản tiền gửi với hơn 9,4 tỷ đồng hỗ trợ người dân) khẳng định tính khả thi của việc xã hội hóa quản lý rừng.
  • Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Thạch Thành: Tác giả đúc kết 5 bài học trọng tâm: (1) Mô hình QLRCĐ phải tương thích với trình độ dân trí cấp thôn bản; (2) Cần thiết lập cơ chế chuyển giao kỹ thuật trực quan theo phương pháp "cầm tay chỉ việc"; (3) Phải có cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch và cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài; (4) Cần có chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ sản xuất đi kèm chế tài nghiêm minh; (5) Xây dựng quy chế phối hợp đa bên phù hợp với đặc thù tự nhiên - xã hội của địa phương.

Chương 2: Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng vào quản lý bảo vệ rừng bền vững tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng quản lý lâm nghiệp và kết quả khảo sát định lượng 92 hộ dân tại địa bàn nghiên cứu.

Hiện trạng tài nguyên rừng và công tác quản lý của huyện

  • Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn huyện đạt 33.818,25 ha, trong đó diện tích có rừng là 27.054,61 ha (rừng tự nhiên chiếm 13.785,85 ha; rừng trồng đạt 11.244,74 ha); diện tích chưa có rừng là 6.763,64 ha. Phân loại theo mục đích sử dụng gồm: rừng sản xuất 23.195,46 ha (chiếm 68,59%), rừng phòng hộ 6.293,04 ha (chiếm 18,61%) và rừng đặc dụng 4.329,75 ha (chiếm 12,80% thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương). Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt 42,7%.
  • Về công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR): Huyện duy trì 69 tổ BVR-PCCCR (367 thành viên) và 15 trung đội dân quân tự vệ. Lực lượng huy động tại chỗ khi có sự cố lên đến 4.738 người cùng hàng nghìn phương tiện, dụng cụ. Năm 2020, huyện đã tu sửa 5,57 ha và làm mới 2,28 ha đường băng cản lửa, giữ vững địa bàn không để xảy ra cháy rừng.
  • Về giao đất lâm nghiệp: Đã giao cho hộ gia đình 7.419,24 ha (chiếm 54,47% tổng diện tích đất lâm nghiệp); giao cho các tổ chức kinh tế, đơn vị nhà nước 9.674,66 ha (chiếm 28,61%); còn lại 5.724,30 ha (chiếm 16,92%) tạm giao cho UBND cấp xã quản lý. Toàn huyện đã triển khai cấp chứng chỉ rừng FSC cho 2.650 hộ với diện tích 3.431,59 ha.

Phân tích mẫu khảo sát thực địa (N = 92)

Dữ liệu điều tra nhân khẩu học và kinh tế - xã hội của 92 hộ dân được tổng hợp chi tiết:

Tiêu chí Phân nhóm Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 69 75,00%
Nữ 23 25,00%
Thành phần dân tộc Mường 60 65,22%
Kinh 23 25,00%
Thái 9 9,78%
Độ tuổi 19 - 30 tuổi 14 15,22%
31 - 40 tuổi 42 45,65%
41 - 50 tuổi 31 33,70%
51 - 60 tuổi 5 5,43%
Trình độ học vấn Không đi học 12 13,04%
Tiểu học 42 45,65%
THCS 26 28,26%
THPT 8 8,70%
Cao đẳng / Đại học 4 4,35%
Phân loại hộ gia đình Hộ nghèo (< 8 triệu/người/năm) 21 22,83%
Hộ cận nghèo (8 - 12 triệu/người/năm) 16 17,39%
Hộ trung bình / khá (> 12 triệu/người/năm) 55 59,78%
Cơ cấu nghề nghiệp hộ Lâm nghiệp - 35,02%
Nông nghiệp - 29,49%
Làm thuê - 15,21%
Buôn bán / dịch vụ - 14,75%
Nhà nước / Tổ chức xã hội - 5,53%

Đánh giá nhận thức và mức độ tham gia thực tế của người dân

  • Về nhận thức: 94,57% người dân nhận định việc bảo vệ rừng là rất quan trọng hoặc quan trọng. Khi đánh giá về cơ quan chịu trách nhiệm chính trong QLBVR, 96,74% chọn Hạt Kiểm lâm, 82,64% chọn UBND các cấp, 71,74% chọn hộ nhận giao khoán (có sổ xanh), và chỉ có 40,22% cho rằng đây là trách nhiệm của toàn dân. Có 38,04% người được hỏi chưa từng nghe về khái niệm QLRCĐ; kênh tiếp nhận thông tin hiệu quả nhất là cán bộ thôn/xã (42 người lựa chọn) và kiểm lâm (37 người).
  • Về các hoạt động tham gia: Người dân tham gia nhiều nhất vào hoạt động trồng rừng (84,78%), tập huấn PCCCR (70,65%), tập huấn khai thác lâm sản (58,70%) và nhận giao khoán (55,43%). Các hoạt động chuyên môn như chống lâm tặc (29,35%), tuần tra rừng (27,17%) có tỷ lệ tham gia thấp.
  • Về vai trò trong các cuộc họp thôn: 53,26% chỉ ngồi nghe thụ động (cấp độ Thông báo); 25,00% có phát biểu ý kiến (cấp độ Tham vấn); 17,39% không tham gia; chỉ có 4,35% được cùng tham gia lập kế hoạch.
  • Phân loại cấp độ tham gia tổng hợp:
Mức độ tham gia Thang điểm Toàn bộ mẫu (N=92) Xã Thành Minh (N=50) Xã Thạch Tượng (N=42)
Ít / Không tham gia 0 - 8 điểm 21 hộ (22,83%) 9 hộ (18,00%) 12 hộ (28,57%)
Tham gia hình thức 9 - 17 điểm 60 hộ (65,22%) 34 hộ (68,00%) 26 hộ (61,90%)
Tham gia thực sự 18 - 25 điểm 11 hộ (11,96%) 7 hộ (14,00%) 4 hộ (9,53%)

Kết quả định lượng chỉ ra đa số người dân (65,22%) mới dừng lại ở mức độ "tham gia hình thức". Tỷ lệ tham gia thực sự tại xã Thành Minh (14,00%) cao hơn xã Thạch Tượng (9,53%) do các tổ đội bảo vệ rừng tại thôn ở Thành Minh hoạt động nền nếp hơn và diện tích nhận khoán bảo vệ rừng gắn với trồng rừng kinh tế đạt tỷ lệ cao hơn.

Ma trận SWOT phân tích tiềm năng của cộng đồng

  • Điểm mạnh (S): Tính gắn kết dòng họ và cộng đồng dân tộc Mường, Thái cao; sự tín nhiệm đối với già làng/trưởng bản; người dân nắm chắc địa hình hiểm trở giúp bổ khuyết khoảng trống thiếu nhân lực kiểm lâm; phát hiện nhanh hành vi vi phạm và chữa cháy tại chỗ.
  • Điểm yếu (W): Trình độ học vấn thấp (58,69% mù chữ hoặc mới học hết tiểu học); áp lực sinh kế do tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 40,22%; cán bộ thôn bản thiếu kỹ năng quản trị lâm nghiệp cộng đồng; quy mô rừng hộ gia đình manh mún, giá trị sản phẩm gỗ chế biến thô thấp.
  • Cơ hội (O): Nhận được sự hỗ trợ từ chính sách giao đất giao rừng của Nhà nước; các chương trình cấp chứng chỉ rừng FSC mở rộng thị trường tiêu thụ; tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và chi trả dịch vụ môi trường rừng.
  • Thách thức (T): Áp lực gia tăng dân số lên quỹ đất rừng; tư cách pháp lý của cộng đồng thôn bản chưa hoàn thiện đầy đủ trong các giao dịch tín dụng; cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp từ rừng tự nhiên và rừng phòng hộ chưa thực sự thông thoáng.

Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quản lý bảo vệ rừng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa

Dựa trên kết quả khảo sát thực địa và phân tích ma trận SWOT, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ theo hai nhóm trọng tâm:

  1. Căn cứ đề xuất: Bám sát chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước, định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với chứng chỉ FSC, và nguyện vọng thực tế của 68/92 hộ dân mong muốn tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị từ rừng (tận thu lâm sản phụ, du lịch sinh thái, tập huấn kỹ thuật).
  2. Nhóm giải pháp thu hút sự tham gia và cải thiện sinh kế:
    • Hoàn thiện cơ chế giao đất, giao rừng và chia sẻ lợi ích: Đẩy nhanh tiến độ rà soát 5.724,30 ha đất lâm nghiệp đang tạm giao cho UBND cấp xã quản lý để giao trực tiếp cho các hộ gia đình, cộng đồng thôn bản có nhu cầu thực sự; xác lập quyền hưởng lợi cụ thể từ việc khai thác tỉa thưa, tận thu lâm sản ngoài gỗ.
    • Hỗ trợ vốn và phát triển kinh tế lâm nghiệp: Tạo điều kiện cho các hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi phát triển rừng gỗ lớn; mở rộng diện tích liên kết cấp chứng chỉ FSC nhằm nâng cao giá trị gỗ xuất khẩu thay vì xuất bán gỗ thô, ván bóc giá trị thấp.
    • Đa dạng hóa sinh kế dưới tán rừng: Khuyến khích mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây dược liệu bản địa và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các khu vực tiếp giáp Vườn quốc gia Cúc Phương.
  3. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng:
    • Đổi mới phương thức tuyên truyền: Tăng cường tuyên truyền thông qua hệ thống truyền thanh thôn/xã và các cuộc họp thôn; biên soạn tài liệu truyền thông bằng hình ảnh trực quan, song ngữ phù hợp với tiếng nói, văn hóa của đồng bào dân tộc Mường, Thái.
    • Nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và tổ đội quần chúng: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản trị rừng cộng đồng cho trưởng thôn, già làng và thành viên 69 tổ BVR-PCCCR; áp dụng phương pháp "cầm tay chỉ việc" trong kỹ thuật tuần tra, ghi chép hiện trường và phòng cháy chữa cháy rừng.
    • Xây dựng và hoàn thiện quy ước bảo vệ rừng cấp thôn: Thể chế hóa các phong tục tập quán tiến bộ thành hương ước, quy ước của thôn bản, có cơ chế khen thưởng và xử phạt minh bạch do cộng đồng tự biểu quyết.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã định lượng hóa bức tranh thực tế về sự tham gia của cộng đồng tại huyện Thạch Thành thông qua nguồn số liệu sơ cấp:

  1. Xác lập mức độ tham gia thực tế: 65,22% số hộ dân tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng ở mức độ hình thức (nhận thông báo một chiều, ngồi nghe trong các cuộc họp); chỉ có 11,96% tham gia thực sự (được bàn bạc, thảo luận và cùng lập kế hoạch); 22,83% ít hoặc không tham gia.
  2. Làm rõ rào cản tham gia: Chỉ ra mối liên hệ giữa trình độ học vấn thấp (58,69% dưới THCS), tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo cao (40,22%) và rào cản nhận thức (38,04% chưa từng nghe về QLRCĐ; chỉ 40,22% xem bảo vệ rừng là việc của toàn dân) đối với mức độ thụ động của cộng đồng.
  3. Đánh giá cơ cấu phối hợp: Xác định chính quyền xã và Hạt Kiểm lâm là hai đầu mối tiếp nhận thông tin sự vụ rừng chủ yếu từ người dân (lần lượt 37 và 44 lượt ý kiến), trong khi các Ban quản lý rừng và Trạm BVR còn khoảng cách xa đối với cộng đồng bản địa (chỉ 9 và 2 lượt lựa chọn).

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

  • Về mặt học thuật: Vận dụng thành công khung lý thuyết thang đo cấp độ tham gia (Arnstein, 1969; Dower, 2004) vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi; xây dựng bộ tiêu chí 7 chỉ số cho điểm tường minh để lượng hóa các khái niệm xã hội học trừu tượng thành số liệu cụ thể.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa cập nhật cho Phòng TN&MT, Hạt Kiểm lâm huyện Thạch Thành trong việc quy hoạch giao đất giao rừng, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành với cộng đồng thôn bản, và định hướng mở rộng diện tích rừng chứng chỉ FSC.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Thời gian và nguồn lực nghiên cứu ngắn: Toàn bộ quá trình khảo sát và thu thập dữ liệu chỉ diễn ra trong vòng 3 tháng (từ tháng 09/2021 đến tháng 11/2021) trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, gây hạn chế việc tổ chức các cuộc họp tập trung đông người.
    • Quy mô mẫu khảo sát: Dung lượng mẫu điều tra sơ cấp dừng lại ở 92 phiếu hợp lệ trên phạm vi 2 xã (Thành Minh và Thạch Tượng), chưa thể bao quát toàn bộ 25 xã, thị trấn của huyện Thạch Thành.
    • Rào cản ngôn ngữ hiện trường: Một bộ phận phụ nữ dân tộc Thái và người cao tuổi không biết tiếng phổ thông hoặc hạn chế khả năng đọc viết, dẫn đến tỷ lệ nam giới đứng tên đại diện trả lời phiếu phỏng vấn chiếm ưu thế lớn (75%), chưa phản ánh đầy đủ khía cạnh giới trong quản lý tài nguyên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ các xã vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương và các xã có diện tích rừng tự nhiên lớn khác của huyện Thạch Thành.
    • Nghiên cứu chuyên sâu hơn về các mô hình sinh kế phi lâm sản dưới tán rừng và cơ chế tài chính chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) tác động trực tiếp đến thu nhập hộ gia đình.

Giá trị tham khảo

Công trình chuyên đề tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Sinh viên và học viên chuyên ngành: Là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên các ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kinh tế Tài nguyên, Khoa học Môi trường và Quản lý Lâm nghiệp khi xây dựng đề cương, thiết kế bảng hỏi khảo sát hộ gia đình và áp dụng phương pháp phân tích SWOT trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.
  2. Phương pháp luận lượng hóa: Các nhà nghiên cứu trẻ có thể học hỏi cách thức chuyển hóa thang đo định tính (các nấc thang tham gia của Arnstein) thành hệ thống bảng điểm định lượng 7 chỉ số để đánh giá sự tham gia của người dân trong các dự án phát triển nông thôn.
  3. Cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương: Cung cấp thông tin thực chứng và các khuyến nghị chính sách sát thực tế cho UBND cấp huyện, xã, cán bộ kiểm lâm địa bàn tại các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên - dân tộc tương đồng với Thạch Thành (tỉnh Thanh Hóa).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận này khảo sát cỡ mẫu bao nhiêu hộ và thực hiện tại những địa bàn cụ thể nào?
Khóa luận đã phát ra 100 phiếu và thu về 92 phiếu khảo sát hợp lệ của các hộ gia đình sinh sống gần rừng hoặc có nhận giao khoán rừng tại 4 thôn thuộc 2 xã của huyện Thạch Thành: Thôn Cẩm Bộ và Thôn Tự Cường (xã Thành Minh, 50 phiếu), Thôn Tượng Liên 1 và Thôn Tượng Phong (xã Thạch Tượng, 42 phiếu).

2. Thực trạng mức độ tham gia của người dân huyện Thạch Thành vào quản lý bảo vệ rừng được phân loại như thế nào?
Dựa trên thang điểm đánh giá 7 chỉ số (0 - 25 điểm), kết quả khảo sát cho thấy:

  • 65,22% hộ gia đình tham gia ở mức độ Hình thức (9 - 17 điểm).
  • 22,83% hộ gia đình Ít hoặc không tham gia (0 - 8 điểm).
  • Chỉ có 11,96% hộ gia đình đạt mức Tham gia thực sự (18 - 25 điểm).

3. Cơ cấu ba loại rừng tại huyện Thạch Thành năm 2020 theo số liệu của khóa luận ra sao?
Theo bảng số liệu thống kê năm 2020 của Phòng NN&PTNT huyện Thạch Thành được trích dẫn trong văn bản:

  • Rừng sản xuất: 23.195,46 ha (chiếm 68,59% tổng diện tích đất lâm nghiệp).
  • Rừng phòng hộ: 6.293,04 ha (chiếm 18,61%).
  • Rừng đặc dụng: 4.329,75 ha (chiếm 12,80%, thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương). Tổng diện tích có rừng là 27.054,61 ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,7%.

4. Người dân địa phương thường báo tin cho cơ quan nào nhất khi phát hiện cháy rừng hoặc lâm tặc phá rừng?
Kết quả khảo sát cho thấy người dân chủ yếu báo tin cho Hạt Kiểm lâm (44 người lựa chọn) và UBND các cấp (37 người lựa chọn). Các Ban quản lý rừng huyện (9 người) và Trạm Bảo vệ rừng (2 người) nhận được rất ít thông tin trực tiếp từ người dân do khoảng cách địa lý và thiếu kênh kết nối thường xuyên.

5. Vì sao tỷ lệ tham gia thực sự vào quản lý rừng của người dân ở xã Thành Minh lại cao hơn xã Thạch Tượng?
Xã Thành Minh đạt tỷ lệ tham gia thực sự là 14,00% (so với 9,53% ở xã Thạch Tượng) do người dân tại Thành Minh có diện tích nhận khoán bảo vệ rừng và tham gia trồng rừng kinh tế nhiều hơn. Đồng thời, các tổ đội bảo vệ rừng cấp thôn tại xã Thành Minh hoạt động chặt chẽ hơn, tổ trưởng các tổ bảo vệ rừng được trực tiếp đóng góp ý kiến và tham gia xây dựng kế hoạch tuần tra cùng Hạt Kiểm lâm.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh đã phản ánh bức tranh thực tiễn về công tác quản lý tài nguyên rừng và mức độ tham gia của cộng đồng dân cư tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù người dân có nhận thức cao về vai trò của rừng, song sự tham gia hiện tại chủ yếu vẫn dừng ở cấp độ hình thức (65,22%) do các rào cản về học vấn, sinh kế nghèo và sự thiếu vắng cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng. Hệ thống giải pháp đề xuất về hoàn thiện giao đất giao rừng, phát triển sinh kế gắn với chứng chỉ FSC và nâng cao năng lực truyền thông song ngữ là những căn cứ thực chứng có giá trị cho công tác hoạch định chính sách lâm nghiệp bền vững tại địa phương.