Luận án tiến sĩ: Phát triển bền vững du lịch tỉnh Ninh Bình trong điều kiện hiện tại

Luận án tiến sĩ phân tích chiến lược phát triển bền vững du lịch tỉnh Ninh Bình, đề xuất giải pháp hiệu quả trong bối cảnh hiện nay.

Trường đại học

Trường Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

173
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển bền vững du lịch tại Ninh Bình hiện nay là một vấn đề cấp thiết. Sự gia tăng nhu cầu du lịch và bảo tồn môi trường đang trở thành một thách thức lớn. Ninh Bình, với tài nguyên thiên nhiên phong phú và văn hóa đa dạng, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch bền vững. Tuy nhiên, thực trạng hiện tại cho thấy du lịch tại đây đang đối mặt với nhiều vấn đề như chất lượng dịch vụ chưa cao, hạ tầng còn yếu kém và nhận thức của cộng đồng về phát triển bền vững còn hạn chế. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Ninh Bình, mục tiêu phát triển du lịch bền vững cần được đặt lên hàng đầu. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân mà còn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ tương lai.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững du lịch tại Ninh Bình. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống hóa lý luận về phát triển bền vững du lịch, phân tích thực trạng và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển này. Đặc biệt, việc xác định các nguyên nhân của thực trạng hiện tại sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp khả thi. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch, từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể cho các cơ quan quản lý và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch.

III. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển bền vững du lịch

Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch bao gồm các khái niệm, vai trò và các bên tham gia. Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế mà còn phải đảm bảo sự công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Các mô hình phát triển bền vững du lịch đã được áp dụng tại nhiều địa phương trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Ninh Bình. Kinh nghiệm từ các địa phương khác cho thấy sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan là rất quan trọng trong việc xây dựng các chính sách phát triển bền vững. Việc áp dụng các tiêu chí đánh giá bền vững sẽ giúp Ninh Bình có cái nhìn tổng thể về thực trạng và hướng đi trong tương lai.

IV. Thực trạng phát triển bền vững du lịch của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2007 2016

Thực trạng phát triển bền vững du lịch tại Ninh Bình trong giai đoạn 2007-2016 cho thấy sự tăng trưởng về lượng khách du lịch, nhưng chất lượng dịch vụ và hạ tầng vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù lượng khách quốc tế và nội địa tăng, nhưng thời gian lưu trú và chi tiêu của khách vẫn thấp. Các doanh nghiệp du lịch còn nhỏ lẻ, thiếu vốn và chưa có sự liên kết chặt chẽ. Đặc biệt, việc bảo tồn tài nguyên và môi trường chưa được chú trọng đúng mức. Những vấn đề này cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành du lịch Ninh Bình trong tương lai.

V. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển bền vững du lịch Ninh Bình đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030

Để phát triển bền vững du lịch Ninh Bình, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía chính quyền và doanh nghiệp. Cần tăng cường công tác quy hoạch, đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ. Đặc biệt, việc đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển bền vững là rất quan trọng. Các kiến nghị cũng cần được đưa ra cho các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành du lịch. Việc xây dựng các chương trình hợp tác giữa các doanh nghiệp và cộng đồng địa phương sẽ giúp tăng cường sự tham gia của người dân vào phát triển du lịch.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ phát triển bền vững du lịch tỉnh ninh bình trong điều kiện hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Có nhiều tài liệu liên quan tới phát triển bền vững, phát triển bền vững du lịch, việc nghiên cứu tài liệu liên quan sách, giáo trình, đề án, luận án,. của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho học viên cái nhìn tổng thể về hoạt động phát triển bền vững của các ngành, hoạt động phát triển bền vững du lịch trên thế giới và của Việt Nam hiện nay.1 Các nghiên cứu về phát triển bền vững Có nhiều quan điểm về phát triển bền vững, những yếu tố cấu thành của phát triển bền vững, mô hình phát triển bền vững, như những quan điểm sau: Khái niệm về phát triển bền vững tại hội nghị Liên hợp Quốc (LHQ về môi trường con người 1972 tại Stockholm chính thức được thức nhận, Trong báo cáo về “Tương lai của chúng ta” của Ủy ban thế giới về môi trường Đến năm 1987, khái niệm này đã được Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (Commission mondiale sur l‟Environnement et le développement) do Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch tiếp thu thừa nhận mối liên hệ giữa kinh tế xã hội và môi trường, định nghĩa lại một cách đầy đủ “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các yêu cầu hiện tại nhưng không tổn hại cho khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng yêu cầu của chính họ”[62]. Kế tiếp theo, những định nghĩa về phát triển bền vững được hoàn thiện hơn như, hội nghị Thượng đỉnh về Trái đát và Môi trường (năm 1992 Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái niệm này và đã gửi đi một thông điệp rõ ràng tới tất cả các cấp của các Chính phủ về sự cấp bách trong việc đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường.

Kế tiếp là Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg(2002), Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đề cập. Quan điểm của các thành viên cùng thống nhất về phát triển bền vững đó chính là sự phát triển 7 phải đảm bảo cả ba mặt kinh tế xã hội và môi trường. Quan niệm về phát triển bền vững dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu, tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Ecotourism and Sustainable Development: Who Owns Paradise? của Honey, Sustainable Tourism in Protected Areas: Guidelines for Planning and Management (2002) của Eagles và cộng sự, Tourism and Environment (1998) của Hens đã đề cập du lịch bền vững và du lịch không bền vững, tập trung lại những nội dung giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn.

Du lịch phải thân thiện với môi trường; đảm bảo lợi ích nhiều mặt của cộng đồng dân cư địa phương, tăng thu nhập cho địa phương; Phải có trách nhiệm về phát triển du lịch hôm nay và cả tương lai. Theo đó, ba trụ cột phát triển bền vững được xác định là; Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: Thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng môi trường sống. Phát triển bền vững biết đến ở Việt Nam vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90, ngay sau tuyên bố Rio. Bắt nhịp bước đi của thời đại, Đảng và Chính phủ đã sớm nhận thức tầm quan trọng của phát triển bền vững.

Ngày 25-6-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong các văn kiện Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng, quan điểm phát triển bền vững càng được chú trọng hơn và nhấn mạnh nhiều lần trên nhiều góc độ tiếp cận, với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, trong đó, quan điểm đầu tiên là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”. Căn cứ vào Chương trình hành động thế kỷ XXI của quốc tế, ngày 17-8-2004, Thủ tướng 8 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 154/2004/QĐ-TTg “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (còn gọi là Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam)[17]. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam nêu bật những vấn đề đang đặt ra trong ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, những thách thức mà nước ta đang phải đối phó.

Chiến lược đã tạo lập mối quan hệ tương hỗ giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường; đã xác định khung thời gian để thực hiện và gắn trách nhiệm của các ngành, các địa phương, các tổ chức và các nhóm xã hội; đã tính tới việc sử dụng các nguồn lực tổng hợp để thực hiện chiến lược. Chính phủ thành lập Hội đồng phát triển bền vững quốc gia để chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Mặc dù phát triển bền vững xuất hiện muộn, nhưng đã được giới khoa học, học thuật của Việt Nam tiếp thu nhanh và có nhiều công trình liên quan.Nguyễn Đình Hòe và TS. Nguyễn Ngọc Sinh (VACNE)[12],[13].

Trương Quang Học, (2010)[14] Bài giảng “Phát triển bền vững” Lý thuyết và thực tiễn Việt Nam. Sự thống nhất quan điểm và yêu cầu về phát triển bền vững của giới khoa học là phát triển hài hòa ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, nguyên tắc phát triển bền vững, gồm có 6 nguyên tắc; nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; nguyên tắc phòng ngừa; nguyên tắc phân quyền và ủy quyền; nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ; nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền. Mô hình phát triển bền vững và các yếu tố cấu thành: Có nhiều công trình về mô hình phát triển bền vững, như mô hình chi tiết của WCED(1987), đòi hỏi sự hài hòa của các lĩnh vực kinh tế - chính trị - hành chính công - xã hội- công nghệ kỹ thuật - sản xuất - quan hệ quốc tế. Mô hình 3 vòng tròn của Jacobs và Sadler (1990), phát triển bền vững là sự hài hòa cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, ba vòng tròn có kích thước tương đương nhau diện tích giao cắt của 3 vòng tròn là lớn nhất, sự phát triển bền vững cao nhất.

Nguyễn Nam Thắng (2015) Nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong lĩnh vực du lịch, những nhận định của tác giả về khung năng lực cạnh tranh từ địa phương, khu vực, quốc gia và tác giả đề xuất được bộ tiêu chí năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, làm cơ sở cho những nghiên cứu 9 tiếp theo. Khung phân tích năng lực cạnh tranh gồm 4 nhóm yếu tố chính và 32 yếu tố thành phần. Nhóm 1: Các điều kiện đầu vào và mức độ hấp dẫn gồm 4 yếu tố thành phần Nhóm 2: Các ngành công nghiệp hỗ trợ, liên quan gồm 5 yếu tố thành phần Nhóm 3: Chiến lược và cơ cấu đối thủ cạnh tranh của địa phương, 9 yếu tố thành phần. Nhóm 4: Các đều kiện và nhu cầu thị trường, 9 yếu tố thành phần.2 Các nghiên cứu về du lịch và phát triển bền vững du lịch Hoạt động du lịch một trong những hoạt động kinh tế lớn của thế giới, nằm trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh nhất, đóng góp 9% GDP, chiếm 8% lao động và khoảng 30% xuất khẩu toàn thế giới, do tầm quan trọng như vậy, nên có nhiều học giả từ trước tới nay, trong và ngoài nước với nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau, được phân thành nhóm sau: * Về du lịch, tài nguyên và tiềm năng du lịch Khái niệm về du lịch được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, như: Tổ chức du lịch thế giới UNWTO (1980) đưa ra khái niệm “ Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của người du hành, tạm trú mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu.

Trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác, trong thời gian liên tục không quá 1 năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du khách mà có mục đích chính là làm tiền, du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi, năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư”. Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới WTTC (2001) đã đưa ra khái niệm về du lịch: “ Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, với mục đích tham quan, khám phá hoặc mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục ở bên ngoài môi trường sống định cư”. Như vậy, sự thống nhất giữa các khái niệm, khi nói tới du lịch, đó là hoạt động nghỉ ngơi, thỏa mãn những nhu cầu về văn hóa nghệ thuật, lịch sử, giao lưu,. 10 Trong một hành trình lưu trú có thời hạn.

Ngoài ra còn là tập hợp những hoạt động kinh doanh theo cuộc hành trình và lưu trú đó, thông qua việc tổ chức vận chuyển, phục vụ vận chuyển, ăn uống, nghỉ ngơi,.hình thành nên ngành kinh doanh du lịch đa dạng, nhiều mầu sắc, theo từng địa phương, từng vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về phát triển bền vững du lịch tại Ninh Bình hiện nay là một nghiên cứu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các yếu tố thúc đẩy và thách thức trong phát triển du lịch bền vững tại Ninh Bình. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về chiến lược quản lý tài nguyên thiên nhiên, văn hóa địa phương, và các giải pháp kinh tế - xã hội để đảm bảo sự phát triển lâu dài của ngành du lịch. Độc giả sẽ được hưởng lợi từ các khuyến nghị thực tiễn, giúp áp dụng hiệu quả vào thực tế quản lý và phát triển du lịch tại các địa phương khác.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững và quản lý tài nguyên, hãy khám phá thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên cát ven biển, hoặc Luận án tiến sĩ về thảm thực vật thoái hóa và mô hình rừng trồng. Để mở rộng kiến thức về phát triển kinh tế địa phương, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ phát triển kinh tế hộ nông dân tại Bình Định. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan.