PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, trải dài theo phía đông bán đảo Đông Dương, với đặc điểm nóng ẩm, mưa nhiều nên Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc với tổng chiều dài khoảng 41.900km, mật độ trung bình khoảng 0,6km/km2, gồm 9 hệ thống sông chính là sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long; đường bờ biển dài trên 3440 km Việt Nam có lợi thế lớn trong phát triển kinh tế – xã hội. Với cuộc sống gắn liền nông nghiệp, hệ thống giao thông đường bộ trước đây chưa có điều kiện phát triển nên từ xa xưa cha ông ta chủ yếu sinh sống gắn liền với sông nước, vì lẽ đó hầu hết các đô thị, khu dân cư tập trung, các khu kinh tế đều nằm ven sông, ven biển, tạo thành một nét riêng trong sự phát triển tập quán sống “nhất cận thị, nhị cận giang” gắn liền với nền văn minh lúa nước. Tuy nhiên, với địa hình ven sông, ven biển chủ yếu là các vùng đất thấp, trũng nên bên cạnh những thuận lợi, cũng luôn có các hiểm họa từ thiên nhiên như lũ lụt, bão, sạt lở đất, …đe dọa sự phát triển bền vững của cộng đồng.
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, những năm gần đây thiên tai ngày càng có xu hướng cực đoan, bất thường, khó dự báo. Gần đây nhất như năm 2012, do ảnh hưởng của mưa, bão, lũ nhất là bão số 8 đã gây thiệt hại nặng nề về sản xuất, cơ sở hạ tầng, tài sản của nhà nước, của các doanh nghiệp và của nhân dân. Trên nhiều tuyến đê đã xuất hiện sự cố gây mất an toàn cho hệ thống đê sông, đê biển. Theo dự báo năm 2014 thời tiết còn diễn biến phức tạp có thể xảy ra những hiện tượng thời tiết cực đoan.
Bên cạnh đó, nhiều vụ vi phạm có tính chất rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng công trình đê và làm giảm mức độ an toàn của đê vẫn diễn ra (như: tình trạng hút cát, lấn chiếm hành lang bảo vệ đê…). Do đó, để đảm bảo cho chất lượng công trình đê cùng với việc tăng cường các biện pháp phòng, chống bão, lũ, công tác bảo vệ an toàn cho các tuyến đê cần được quan tâm. Bắc Giang là tỉnh có nhiều đê sông, tình hình quản lý đê sông cũng có những nét chung với các tỉnh lân cận, ngoài ra do đặc điểm của địa phương công tác này có 2 những đặc thù riêng. Do đó, để phát huy hơn nữa công tác quản lý chất lượng đê nhằm hạn chế những rủi ro, tổn thất có thể xảy ra, giúp các cơ quan chức năng của địa phương tham mưu xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đê phù hợp trong phạm vi của tỉnh là việc làm hết sức cần thiết.
Chính vì lý do đó, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý an toàn đê tỉnh Bắc Giang, áp dụng cho đoạn đê sông Thương, xã Liên Chung, huyện Tân Yên”cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành quản lý xây dựng công trình. Mục đích của đề tài: - Đánh giá được thực trạng hệ thống đê, hệ thống quản lý và quản lý chất lượng đê điều tỉnh Bắc Giang. - Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hỗ trợ công tác quản lý chất lượng công trình đê cho cơ quan quản lý đê sông Thương, trên địa bàn Bắc Giang nhằm đảm bảo sự an toàn của đê trong mùa mưa lũ. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá.
- Phương pháp lý thuyết - Kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn: -Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý chất lượng đê sông Thương Bắc Giang, cụ thể là quản lý đoạn đê sông xã Liên Chung, huyện Tân yên, tỉnh Bắc Giang. -Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tuyến đê sông tỉnh Bắc Giang. Dự kiến những đóng góp của luận văn: -Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý chất lượng công trình đê ảnh hưởng đến an toàn đê, công trình đê điều và khu vực lân cận.
-Trên cơ sở phân tích thực trạng an toàn đê điều ở tỉnh Bắc Giang luận văn phân tích để chỉ ra những ưu, nhược điểm và những tồn tại của công tác quản lý chất lượng công trình đê sông của Bắc Giang. -Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm củng cố và nâng cao năng lực quản lý chất lượng đê điều trong thời gian tới. TỔNG QUAN VỀ ĐÊ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN HỆ THỐNG ĐÊ SÔNG Ở VIỆT NAM 1.Tổng quan về hệ thống đê sông ở Việt Nam Với miền Bắc nước ta, hầu hết các sông đều có đê, nhưng hệ thống đê sông Hồng là lớn nhất cả về quy mô và kỹ thuật xây dựng, tổng chiều dài toàn hệ thống lên tới 1. Đây cũng là một trong những hệ thống đê lớn nhất, dài nhất thế giới, nó xứng đáng được công nhận là di sản văn hóa quốc gia và khu vực.
Đê là một công trình thành lũy bằng đất hình thành lên dọc theo các bờ sông, hoặc bờ biển để ngăn nước ngập ở một khu vực cụ thể nào đó. Đê có hai dạng được hình thành là do tự nhiên và nhân tạo. Đê tự nhiên là loại được hình thành do sự lắng đọng của các trầm tích trong sông khi dòng nước này tràn qua bờ sông thường là vào những mùa lũ. Khi tràn qua bờ, vận tốc dòng nước giảm làm các vật liệu trong dòng nước lắng đọng theo thời gian nó sẽ cao dần và cao hơn bề mặt đồng lụt (khu vực bằng phẳng bị ngập lụt).
Trong trường hợp không có lũ, các trầm tích có thể lắng đọng trong kênh dẫn và làm cho bề mặt kênh dẫn cao lên. Sự tương tác qua lại này không chỉ làm cao bề mặt của đê mà thậm chí làm cao đáy sông. Các đê thiên nhiên đặc biệt được ghi nhận dọc theo sông Hoàng Hà, Trung Quốc gần biển nơi đây các con tàu đi qua ở độ cao mặt nước cao hơn bề mặt đồng bằng. Các đê thiên nhiên là đặc điểm phổ biến của các dòng sông uốn khúc trên thế giới.
Ở ven bờ biển thì các đụn cát cũng có thể coi là đê tự nhiên. Kiểu đê tự nhiên này khá phổ biến ở miền Trung nước ta. Vai trò chính của đê nhân tạo là ngăn ngập lụt, tuy nhiên, chúng cũng có thể làm hẹp dòng chảy làm cho dòng nước chảy nhanh hơn và dâng cao hơn. Đê có thể được tìm thấy dọc theo bờ biển, nơi mà các cồn cát không đủ chắc hoặc dọc theo sông, hồ và các vùng đất lấn biển để bảo vệ phía trong bờ khi có các đợt nước dâng cao.
Hơn thế nữa, đê được xây dựng với mục đích vây để ngăn không cho nước ngập một khu vực cụ thể (như khu dân cư). Đê nhân tạo có thể là loại vĩnh cửu hoặc tạm thời được dựng lên trên đỉnh của đê hiện hữu. Có nhiều cách phân loại đê trong 4 đó theo vị trí của đê so với dòng sông người ta chia thành có đê sông, để cửa sông, đê biển. Trên thế giới, ngay từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, cư dân văn minh thung lũng Indus đã đắp những con đê đầu tiên.
Mỗi vùng đất, tùy theo địa hình và tập quán dân tộc, khả năng và điều kiện khoa học kỹ thuật riêng biệt mà người ta xây dựng đê bằng nhiều hình thức khác nhau. Đối với Việt Nam bởi địa hình đặc biệt có bờ biển dài dọc theo lãnh thổ, sông suối rất nhiều, trong đó có những con sông quốc tế đến Việt Nam là điểm hạ lưu cuối cùng như sông Hồng, sông Đà, sông Cửu Long. nên việc phải xây dựng đê để ngăn nước ngập lụt là điều tất yếu và đương nhiên cũng phải bền vững, quy mô hơn so với đê của các nước trên thế giới. Đê ở Việt Nam phổ biến nhất là ở miền Bắc và chủ yếu là dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Mã, sông Lam.
Ngoài con đê chính thường lui sâu hơn vào trong đất liền, có khi còn đắp thêm những con đê phụ gọi là đê quai hoặc con trạch để phòng khi đê chính bị vỡ thì còn cứu được phần ruộng đất nơi xa sông khỏi bị ngập lụt. Lịch sử xây dựng đê ở nước ta cho biết: dưới thời nhà Lý, tháng 3 năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá với mục đích bảo về thành Thăng Long khỏi bị nước sông Hồng tràn ngập. Đến đời nhà Trần, đê được đắp ở nhiều nơi cất giữ không cho nước sông tràn vào để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì lại cho nước tự do tràn vào đồng ruộng. Đời Lê, những con đê lớn hơn được đắp mới và tôn tạo dọc hai bờ sông Nhị Hà, việc đắp đê ở thời kỳ này cho là quá giới hạn làm cho sông Hồng trở lên hung dữ, nên đến đời nhà Nguyễn, có lúc đã đặt ra vấn đề là phải bỏ đê.
Trước năm 1938 Nguyễn Công Trứ đề xuất giải pháp nắn chỉnh, khơi đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức Thiên Đức thời bấy giờ) chuyển cửa nhận nước từ sông Hồng về phía thượng lưu. Đề xuất này phải đến đời Tự Đức mới được làm một phần và hoàn thành vào thời kỳ Pháp thuộc Với tổng chiều dài 1.314km, thuộc loại lớn nhất, dài nhất thế giới, hệ thống đê sông Hồng được xây dựng với mục đích để chứa nước và tưới tiêu cho vùng châu thổ giàu lúa gạo, đồng thời cũng để tháo nước khi bị lụt. Hệ thống đê này sau nhiều 5 thế hệ dã góp phần duy trì mật độ dân số cao ở đồng bằng và làm tăng gấp đôi diện tích có thể canh tác lúa nước ở đây. Qua nhiều thế kỷ, việc phòng lụt qua hệ thống đê đã trở thành một công việc gắn liền với văn hóa và kinh tế của dân tộc.
Con đê trên những bãi sông xuyên qua các vùng dân cư trù mật, tạo lên một không gian thiên nhiên rất ngoạn mục, thủy mặc hữu tình. Đêm ngày ngàn năm soi bóng những bãi mía, ruộng ngô, rặng tre và rải rác các công trình văn hóa - lịch sử mọc lên. gắn bó bao đời với người dân khu vực, tạo lên nguồn cảm hứng bất tận để các thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam sáng tác thi ca, nhạc họa nói về đê.