Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các giải pháp phòng lũ cho hệ thống sông chu sông mã trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu các giải pháp phòng lũ cho hệ thống sông chu sông mã trong điều kiện biến đổi khí hậu và, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ kỹ thuật

2016

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phòng lũ và biến đổi khí hậu

Phòng lũ là một trong những thách thức lớn đối với hệ thống sông sông Chusông Mã, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậunước biển dâng. Những thay đổi này làm gia tăng tần suất và cường độ của các trận lũ, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và xã hội. Các giải pháp hiệu quả cần được nghiên cứu và áp dụng để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ môi trường.

1.1. Tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đã làm thay đổi chế độ mưa và dòng chảy trên lưu vực sông Chusông Mã. Sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu dẫn đến hiện tượng nước biển dâng, làm giảm khả năng thoát lũ của các con sông. Điều này đòi hỏi các giải pháp thích ứng và quản lý lũ lụt hiệu quả hơn.

1.2. Hiện trạng công trình thủy lợi

Hệ thống công trình thủy lợi hiện tại trên sông Chusông Mã bao gồm đê điều, hồ chứa và trạm bơm. Tuy nhiên, các công trình này chưa đủ để đối phó với các trận lũ lớn trong điều kiện biến đổi khí hậu. Cần nâng cấp và xây dựng thêm các công trình mới để đảm bảo an toàn lũ lụt.

II. Giải pháp phòng lũ hiệu quả

Các giải pháp hiệu quả để phòng lũ trên sông Chusông Mã bao gồm cả công trình và phi công trình. Việc áp dụng các mô hình toán học như MIKE11 giúp dự báo và quản lý lũ lụt chính xác hơn. Các giải pháp này cần được tích hợp vào quy hoạch lưu vực sông để đảm bảo tính bền vững.

2.1. Giải pháp công trình

Các công trình thủy lợi như hồ chứa, đê điều và hệ thống thoát lũ cần được thiết kế và xây dựng để đối phó với các kịch bản biến đổi khí hậu. Việc sử dụng các hồ chứa thượng nguồn để cắt lũ là một giải pháp hiệu quả, giúp giảm áp lực lên hạ du.

2.2. Giải pháp phi công trình

Các giải pháp phi công trình bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, trồng rừng phòng hộ và cải thiện hệ thống cảnh báo sớm. Việc tuyên truyền và giáo dục giúp người dân chủ động hơn trong việc phòng ngừa và ứng phó với lũ lụt.

III. Quy hoạch và quản lý lưu vực sông

Quy hoạch lưu vực sông là yếu tố then chốt trong việc phòng lũ hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các địa phương và cơ quan chức năng để quản lý và sử dụng tài nguyên nước một cách bền vững. Các kế hoạch phòng lũ cần được cập nhật thường xuyên để đáp ứng với các thay đổi của biến đổi khí hậu.

3.1. Quy hoạch phòng lũ

Việc quy hoạch phòng lũ cần dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậunước biển dâng. Các phương án quy hoạch cần tính đến việc xả lũ từ các hồ chứa và tác động của triều cường. Điều này giúp đảm bảo an toàn cho các khu vực hạ du.

3.2. Quản lý lũ lụt

Quản lý lũ lụt đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương. Việc sử dụng các công cụ hiện đại như mô hình MIKE11 giúp dự báo và quản lý lũ lụt hiệu quả hơn. Cần xây dựng các kế hoạch ứng phó khẩn cấp để giảm thiểu thiệt hại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan lưu vực sông Chu sông Mã 1. Lưu vực Sông Mã Sông Mã tiếp giáp với vùng nghiên cứu từ ngã ba Bông bao bọc phía Tây và Nam vùng nghiên cứu rồi đổ ra biển tại cửa Hới. Đoạn sông này dài 34,4km, hoàn toàn mang tính chất sông đồng bằng và đồng bằng ven biển và bị ảnh mạnh của chế độ thủy triều. Mực nước về mùa lũ thường là +7,5m tại ngã ba Bông và +1,8 đến +2,2m tại Hoàng Tân.

Mực nước trong mùa lũ thường cao hơn trong đồng 3 đến 4m nhưng sông này lại có hệ thống đê rất chắc chắn từ Hoàng Khánh đến Cửa Hới. Về mùa kiệt mực nước thường dao động từ -0,3 đến +1,5m tùy theo con triều. Về mùa kiệt sông Mã là con sông cung cấp nguồn nước tưới chủ yếu cho vùng Bắc sông Mã bằng các hệ thống trạm bơm và cống lấy nước dọc sông. Sông Mã bắt nguồn từ Tuần Giáo - Lai Châu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chiều dài dòng chính 512 km, chiều rộng bình quân lưu vực 42km.

Sông Mã có 39 phụ lưu lớn và 2 phân lưu. Các phụ lưu phát triển đều trên lưu vực. Lưới sông Mã phát triển theo dạng cành cây phân bố đều trên 2 bờ tả và hữu. Các chi lưu quan trọng của sông Mã là: Nậm Lệ, Suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Hoạt, sông Chu.

Lưu vực Sông Chu Là phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ vùng núi cao trên đất Lào chảy chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam. Sông Chu đổ vào sông Mã tại ngã ba Giàng, cách cửa sông Mã về phía thượng lưu 25,5 km. Chiều dài dòng chính sông Chu 392 km, phần chảy trên đất Việt Nam 160 km.

Tổng diện tích lưu vực sông Chu 7. Diện tích lưu vực sông Chu hầu hết nằm ở vùng rừng núi. Từ Bái 5 Thượng trở lên thượng nguồn lòng sông Chu dốc, có nhiều ghềnh thác, lòng sông hẹp có thềm sông nhưng không có bãi sông. Từ Bái Thượng đến cửa sông Chu chảy giữa hai tuyến đê, bãi sông rộng, lòng sông thông thoáng, dốc nên khả năng thoát lũ của sông Chu nhanh.

Sông Chu có rất nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông Đạt, sông Đằng, sông Âm. Sông Chu có vị trí rất quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên lũ sông Chu là hiểm hoạ lớn đe doạ nền kinh tế của tỉnh Thanh Hoá. Lưu vực Sông Bưởi Là phụ lưu lớn thứ 2 của sông Mã.

Bắt nguồn từ núi Chu thuộc tỉnh Hoà Bình. Dòng chính sông Bưởi chảy theo hướng Bắc Nam đổ vào sông Mã tại Vĩnh Khang. Chiều dài dòng chính sông Bưởi 130 km. Diện tích lưu vực 1.

Độ dốc bình quân lưu vực 1,22%, thượng nguồn sông Bưởi là 3 suối lớn: suối Cái, suối Bin và suối Cộng Hoà 3 nhánh hợp lại tại Vụ Bản tạo thành sông Bưởi. Lòng dẫn sông Bưởi từ thượng nguồn đến cửa sông đều mang tính chất của sông vùng đồi 4. Lưu vực Sông Cầu Chày Bắt nguồn từ núi Đèn chảy theo hướng gần Tây - Đông chảy qua đồng bằng Nam sông Mã - Bắc sông Chu. Tổng chiều dài sông 87,5 km.

Diện tích lưu vực 551 km2. Khả năng cấp nước và thoát nước của sông Cầu Chày rất kém. Lưu vực Sông Hoạt Sông Hoạt là một sông nhỏ có lưu vực rất độc lập và có hai cửa đổ vào sông Lèn tại cửa Báo Văn và đổ ra biển tại cửa Càn. Tổng diện tích lưu vực sông Hoạt 250 km2 trong đó 40% là đồi núi trọc.

Lưu vực Sông Lèn Là một phân lưu lớn của sông Mã, bắt đầu từ ngã ba Bông chảy qua huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và đổ ra biển tại cửa Lạch Sung. Sông dài khoảng 40km, lòng sông quanh co uốn khúc. Về mùa lũ lượng nước chảy từ sông Mã vào sông Lèn từ 1. Mực nước về mùa lũ thường cao hơn trong 6 đồng từ 2,5÷3,5m, nên các vùng dọc sông chỉ tiêu tranh thủ khi triều xuống hoặc có phải tiêu bằng động lực.

Trong mùa lũ sông Lèn tải cho sông Mã 1517% lưu lượng ra biển., tổng chiều dài sông Lèn 40 km. Hai bên có đê bảo vệ dân sinh và sản xuất của các huyện ven sông. Về mùa kiệt lưu lượng sông Mã phân sang sông Lèn khoảng 20 đến 30%. Đây là con sông cung cấp nước quan trọng cho vùng Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và vùng lấn biển.

Sông Lèn cũng bị ảnh hưởng của chế độ thủy triều khá mạnh (biên độ triều tại cầu Lèn còn tới 0,4÷0,5m) nên mặn vẫn bị xâm nhập ảnh hưởng tới việc lấy nước tưới. Ở phà Thắm, qua đo đạc thấy mặn thường xuyên là 2‰. Lưu vực Sông Lạch Trường: Là một nhánh phân lưu lớn của sông Mã bắt nguồn từ Phương Đình chảy qua Hoằng Hoá, Hậu Lộc và đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Chiều dài sông khoảng 24km.

Đoạn sông này hẹp và nông. Về mùa kiệt hầu như không lấy được nguồn từ sông Mã, nên sông bị mặn hoàn toàn và chịu ảnh hưởng thuỷ triều. Về mùa lũ, một phần lượng nước từ sông Mã phân vào sông Lạch Trường và đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Vì sông Lạch Trường ngắn và bị ảnh hưởng triều mạnh nên có tác dụng tiêu tranh thủ rất tốt cho phần diện tích nằm giữa Nam sông Lèn, Đông sông Mã, Bắc Lạch Trường và Tây kênh De.

Sông Lạch Trường phân chia dòng chảy với sông Mã tại ngã ba Tuần chảy theo hướng Tây - Đông đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Chiều dài sông chính 22 km, sông có bãi rộng. Sông Mã chỉ phân lưu vào sông Lạch Trường trong mùa lũ, trong mùa kiệt sông Lạch Trường chịu tác động của thuỷ triều cả 2 phía là sông Mã và biển. Sông Lạch Trường là trục nhận nước tiêu quan trọng của Hoằng Hoá và Hậu Lộc.

Lưu vực Sông Báo Văn: Nối với sông Hoạt tại Tứ Thôn và đổ ra sông Lèn, sông dài khoảng 10km. Lòng sông đã được nạo vét, âu Mỹ Quan Trang và âu Báo Văn đã được xây dựng để ngăn mặn tạo nguồn nước cấp cho tưới. Lưu vực Sông Càn: Từ Tứ Thôn qua Mỹ Quan Trang và đổ ra biển tại cửa Càn. Đoạn từ Mỹ Quan Trang đến cầu Điền Hộ, hai bên sông núi đá không nạo vét được nên hàng năm lũ bị ứ tắc không tiêu thoát được.

Do không có tác dụng tiêu về mùa lũ nên tại Mỹ Quan Trang đã xây dựng âu Mỹ Quan Trang để tách lũ núi của dãy Tam Điệp tiêu ra sông Càn không cho tràn vào nội đồng, đồng thời còn để tiêu tranh thủ khi mực nước lũ sông Càn thấp. Nhìn chung hệ thống sông Hoạt, Báo Văn, sông Càn là các trục sông nội đồng chính của vùng Hà Trung, Nga Sơn. Ngoài ra còn có vài con sông nhỏ như sông Chiếu Bạch, sông Hưng Long. Nhưng sông Chiếu Bạch cũng gần như sông chết, chỉ còn sông Hưng Long là trục tiêu chính của huyện Nga Sơn.

Cao độ đáy sông -0,8 đến -2m (tại Tứ Thôn và cống Mộng Dường). Lòng sông rộng khoảng 10÷15m, khoảng cách giữa 2 bờ là 40m. Kênh này chạy qua vùng cát nên hay bị sạt lở, hiện nay đang được nạo vét và cứng hoá một phần. 8 Hình 1 - 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu và sơ đồ hệ thống sông Chu - sông Mã 9 1.2 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 1.

Vị trí địa lý toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã Toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã nằm trong toạ độ: Từ 22037’30” đến 20037’30” độ vĩ Bắc Từ 103005’10” đến 106005’10” độ kinh Đông. Nơi bắt nguồn của lưu vực thuộc Tuần Giáo tỉnh Lai Châu Phía Bắc giáp lưu vực sông Đà, sông Bôi chạy từ Sơn La về đến Cầu Điền Hộ. Phía Nam giáp lưu vực sông Hiếu, sông Yên, sông Đơ. Phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông.

Phía Đông là Vịnh Bắc Bộ chạy dài từ cửa sông Càn đến cửa sông Mã với chiều dài bờ biển 40 km. Đặc điểm địa hình Vùng Bắc sông Chu - Nam sông Mã: là vùng chuyển tiếp từ vùng đối núi thấp sang vùng đồng bằng, có độ dốc nghiêng từ Tây sang Đông và dốc theo hướng chảy của sông Âm, sông Cầu Chày. Cao độ phía cực Tây Bắc của vùng từ 2025m trũng nhất là ven hạ du sông Cầu Chày. Dạng địa hình này xen kẽ có những đồi bát úp và thung lũng rộng, trũng và sâu.

Cây lương thực và hoa màu phân bố chủ yếu từ cao độ +18m trở xuống, từ cao độ +18m đến +40m là sườn đồi, cây trồng chủ yếu là mía, cam và cao su. Từ cao độ +40m trở lên là rừng thưa, luồng, tre nứa và bụi rậm. Phía Bắc được giới hạn bởi đê sông Mã, phía Đông - Đông Nam là hạ du đê sông Chu. Do địa hình hạ du sông Cầu Chày thấp lại chịu ảnh hưởng nước lũ sông Mã nên việc tiêu thoát nước rất khó khăn nhất là về mùa lũ.

Vùng Nam sông Chu: Đây là vùng phía Nam của sông Chu một nhánh lớn của sông Mã. Độ dốc địa hình từ Tây Nam sang Đông Bắc và từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất là khu Thọ Xuân, Sao Vàng 2025m thấp nhất vùng ven sông Yên 0,70,5m. Cao độ 10 mặt đất đại bộ phận dưới +10m, là vùng trồng cây lương thực trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa.

Tiểu vùng hạ sông Bưởi: Đây là vùng đồi núi thấp của hạ du sông Bưởi từ Kim Tân tới tả ngạn sông Mã. Hướng dốc chính theo chiều Bắc Nam. Đồng bằng nơi cao nhất đạt 15 - 20m, nơi trũng nhất đạt +2,5m. Những vùng trũng như Hón Nga, Vĩnh Hùng, Hà Linh, Cầu Mủ thường bị ngập úng khi có lũ.

Dạng địa hình này nằm trọn vẹn trong hai huyện Vĩnh Lộc và Nam Thạch Thành. Địa hình chủ yếu là đất dốc, đồi thoải rất thích hợp cho vùng trồng mía. Phần lớn các trạm khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sông Mã được xây dựng từ sau năm 1954, phổ biến từ 1960 tới nay. Tuy nhiên một số trạm đo mưa, khí hậu được thành lập từ trước năm 1954 như trạm Như Xuân (1928), Bái Thượng (1921), Thanh Hoá (1899), Hồi Xuân (1923).

Số liệu này đo đạc không được liên tục do chiến tranh gián đoạn từ những năm 1944, 1945 tới 1954. Sau ngày hoà bình lập lại lưới trạm khí tượng thuỷ văn được phát triển rộng tuy nhiên do chiến tranh và khó khăn về kinh tế nên những năm 1979 - 1980 nhiều trạm khí tượng thuỷ văn đã bị hạ cấp hoặc ngừng đo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp phòng lũ hiệu quả cho sông Chu, sông Mã trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng" trình bày những giải pháp thiết thực nhằm ứng phó với tình trạng lũ lụt gia tăng do biến đổi khí hậu. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống quản lý nước hiệu quả, từ đó giúp bảo vệ môi trường và sinh kế của người dân sống ven sông. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các biện pháp kỹ thuật, chính sách và chiến lược phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước và biến đổi khí hậu, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ quy hoạch và quản lý tài nguyên nước nghiên cứu tác động của dự án chuyển nước từ lưu vực sông rào trổ sang lưu vực sông trí cấp nước cho khu công nghiệp vũng áng đến vùng chảy kiệt và tình hình xâm nhập mặn tại vùng hạ du sông chanh. Tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của các dự án chuyển nước đến môi trường.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu giải pháp công trình kè chống xói lở bờ biển phước tỉnh huyện long điền tỉnh bà rịa vũng tàu, nơi đề cập đến các giải pháp kỹ thuật để bảo vệ bờ biển, một vấn đề cũng rất quan trọng trong bối cảnh nước biển dâng.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành thủy văn học đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mô hình mưa tiêu thiết kế cho khu vực hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các mô hình khí tượng, từ đó có thể áp dụng vào việc quản lý nguồn nước hiệu quả hơn.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước và ứng phó với biến đổi khí hậu.