CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan lưu vực sông Chu sông Mã 1. Lưu vực Sông Mã Sông Mã tiếp giáp với vùng nghiên cứu từ ngã ba Bông bao bọc phía Tây và Nam vùng nghiên cứu rồi đổ ra biển tại cửa Hới. Đoạn sông này dài 34,4km, hoàn toàn mang tính chất sông đồng bằng và đồng bằng ven biển và bị ảnh mạnh của chế độ thủy triều. Mực nước về mùa lũ thường là +7,5m tại ngã ba Bông và +1,8 đến +2,2m tại Hoàng Tân.
Mực nước trong mùa lũ thường cao hơn trong đồng 3 đến 4m nhưng sông này lại có hệ thống đê rất chắc chắn từ Hoàng Khánh đến Cửa Hới. Về mùa kiệt mực nước thường dao động từ -0,3 đến +1,5m tùy theo con triều. Về mùa kiệt sông Mã là con sông cung cấp nguồn nước tưới chủ yếu cho vùng Bắc sông Mã bằng các hệ thống trạm bơm và cống lấy nước dọc sông. Sông Mã bắt nguồn từ Tuần Giáo - Lai Châu chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chiều dài dòng chính 512 km, chiều rộng bình quân lưu vực 42km.
Sông Mã có 39 phụ lưu lớn và 2 phân lưu. Các phụ lưu phát triển đều trên lưu vực. Lưới sông Mã phát triển theo dạng cành cây phân bố đều trên 2 bờ tả và hữu. Các chi lưu quan trọng của sông Mã là: Nậm Lệ, Suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Hoạt, sông Chu.
Lưu vực Sông Chu Là phụ lưu cấp I lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ vùng núi cao trên đất Lào chảy chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam. Sông Chu đổ vào sông Mã tại ngã ba Giàng, cách cửa sông Mã về phía thượng lưu 25,5 km. Chiều dài dòng chính sông Chu 392 km, phần chảy trên đất Việt Nam 160 km.
Tổng diện tích lưu vực sông Chu 7. Diện tích lưu vực sông Chu hầu hết nằm ở vùng rừng núi. Từ Bái 5 Thượng trở lên thượng nguồn lòng sông Chu dốc, có nhiều ghềnh thác, lòng sông hẹp có thềm sông nhưng không có bãi sông. Từ Bái Thượng đến cửa sông Chu chảy giữa hai tuyến đê, bãi sông rộng, lòng sông thông thoáng, dốc nên khả năng thoát lũ của sông Chu nhanh.
Sông Chu có rất nhiều phụ lưu lớn như sông Khao, sông Đạt, sông Đằng, sông Âm. Sông Chu có vị trí rất quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên lũ sông Chu là hiểm hoạ lớn đe doạ nền kinh tế của tỉnh Thanh Hoá. Lưu vực Sông Bưởi Là phụ lưu lớn thứ 2 của sông Mã.
Bắt nguồn từ núi Chu thuộc tỉnh Hoà Bình. Dòng chính sông Bưởi chảy theo hướng Bắc Nam đổ vào sông Mã tại Vĩnh Khang. Chiều dài dòng chính sông Bưởi 130 km. Diện tích lưu vực 1.
Độ dốc bình quân lưu vực 1,22%, thượng nguồn sông Bưởi là 3 suối lớn: suối Cái, suối Bin và suối Cộng Hoà 3 nhánh hợp lại tại Vụ Bản tạo thành sông Bưởi. Lòng dẫn sông Bưởi từ thượng nguồn đến cửa sông đều mang tính chất của sông vùng đồi 4. Lưu vực Sông Cầu Chày Bắt nguồn từ núi Đèn chảy theo hướng gần Tây - Đông chảy qua đồng bằng Nam sông Mã - Bắc sông Chu. Tổng chiều dài sông 87,5 km.
Diện tích lưu vực 551 km2. Khả năng cấp nước và thoát nước của sông Cầu Chày rất kém. Lưu vực Sông Hoạt Sông Hoạt là một sông nhỏ có lưu vực rất độc lập và có hai cửa đổ vào sông Lèn tại cửa Báo Văn và đổ ra biển tại cửa Càn. Tổng diện tích lưu vực sông Hoạt 250 km2 trong đó 40% là đồi núi trọc.
Lưu vực Sông Lèn Là một phân lưu lớn của sông Mã, bắt đầu từ ngã ba Bông chảy qua huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và đổ ra biển tại cửa Lạch Sung. Sông dài khoảng 40km, lòng sông quanh co uốn khúc. Về mùa lũ lượng nước chảy từ sông Mã vào sông Lèn từ 1. Mực nước về mùa lũ thường cao hơn trong 6 đồng từ 2,5÷3,5m, nên các vùng dọc sông chỉ tiêu tranh thủ khi triều xuống hoặc có phải tiêu bằng động lực.
Trong mùa lũ sông Lèn tải cho sông Mã 1517% lưu lượng ra biển., tổng chiều dài sông Lèn 40 km. Hai bên có đê bảo vệ dân sinh và sản xuất của các huyện ven sông. Về mùa kiệt lưu lượng sông Mã phân sang sông Lèn khoảng 20 đến 30%. Đây là con sông cung cấp nước quan trọng cho vùng Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và vùng lấn biển.
Sông Lèn cũng bị ảnh hưởng của chế độ thủy triều khá mạnh (biên độ triều tại cầu Lèn còn tới 0,4÷0,5m) nên mặn vẫn bị xâm nhập ảnh hưởng tới việc lấy nước tưới. Ở phà Thắm, qua đo đạc thấy mặn thường xuyên là 2‰. Lưu vực Sông Lạch Trường: Là một nhánh phân lưu lớn của sông Mã bắt nguồn từ Phương Đình chảy qua Hoằng Hoá, Hậu Lộc và đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Chiều dài sông khoảng 24km.
Đoạn sông này hẹp và nông. Về mùa kiệt hầu như không lấy được nguồn từ sông Mã, nên sông bị mặn hoàn toàn và chịu ảnh hưởng thuỷ triều. Về mùa lũ, một phần lượng nước từ sông Mã phân vào sông Lạch Trường và đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Vì sông Lạch Trường ngắn và bị ảnh hưởng triều mạnh nên có tác dụng tiêu tranh thủ rất tốt cho phần diện tích nằm giữa Nam sông Lèn, Đông sông Mã, Bắc Lạch Trường và Tây kênh De.
Sông Lạch Trường phân chia dòng chảy với sông Mã tại ngã ba Tuần chảy theo hướng Tây - Đông đổ ra biển tại cửa Lạch Trường. Chiều dài sông chính 22 km, sông có bãi rộng. Sông Mã chỉ phân lưu vào sông Lạch Trường trong mùa lũ, trong mùa kiệt sông Lạch Trường chịu tác động của thuỷ triều cả 2 phía là sông Mã và biển. Sông Lạch Trường là trục nhận nước tiêu quan trọng của Hoằng Hoá và Hậu Lộc.
Lưu vực Sông Báo Văn: Nối với sông Hoạt tại Tứ Thôn và đổ ra sông Lèn, sông dài khoảng 10km. Lòng sông đã được nạo vét, âu Mỹ Quan Trang và âu Báo Văn đã được xây dựng để ngăn mặn tạo nguồn nước cấp cho tưới. Lưu vực Sông Càn: Từ Tứ Thôn qua Mỹ Quan Trang và đổ ra biển tại cửa Càn. Đoạn từ Mỹ Quan Trang đến cầu Điền Hộ, hai bên sông núi đá không nạo vét được nên hàng năm lũ bị ứ tắc không tiêu thoát được.
Do không có tác dụng tiêu về mùa lũ nên tại Mỹ Quan Trang đã xây dựng âu Mỹ Quan Trang để tách lũ núi của dãy Tam Điệp tiêu ra sông Càn không cho tràn vào nội đồng, đồng thời còn để tiêu tranh thủ khi mực nước lũ sông Càn thấp. Nhìn chung hệ thống sông Hoạt, Báo Văn, sông Càn là các trục sông nội đồng chính của vùng Hà Trung, Nga Sơn. Ngoài ra còn có vài con sông nhỏ như sông Chiếu Bạch, sông Hưng Long. Nhưng sông Chiếu Bạch cũng gần như sông chết, chỉ còn sông Hưng Long là trục tiêu chính của huyện Nga Sơn.
Cao độ đáy sông -0,8 đến -2m (tại Tứ Thôn và cống Mộng Dường). Lòng sông rộng khoảng 10÷15m, khoảng cách giữa 2 bờ là 40m. Kênh này chạy qua vùng cát nên hay bị sạt lở, hiện nay đang được nạo vét và cứng hoá một phần. 8 Hình 1 - 1: Bản đồ khu vực nghiên cứu và sơ đồ hệ thống sông Chu - sông Mã 9 1.2 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 1.
Vị trí địa lý toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã Toàn bộ lưu vực sông Chu sông Mã nằm trong toạ độ: Từ 22037’30” đến 20037’30” độ vĩ Bắc Từ 103005’10” đến 106005’10” độ kinh Đông. Nơi bắt nguồn của lưu vực thuộc Tuần Giáo tỉnh Lai Châu Phía Bắc giáp lưu vực sông Đà, sông Bôi chạy từ Sơn La về đến Cầu Điền Hộ. Phía Nam giáp lưu vực sông Hiếu, sông Yên, sông Đơ. Phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông.
Phía Đông là Vịnh Bắc Bộ chạy dài từ cửa sông Càn đến cửa sông Mã với chiều dài bờ biển 40 km. Đặc điểm địa hình Vùng Bắc sông Chu - Nam sông Mã: là vùng chuyển tiếp từ vùng đối núi thấp sang vùng đồng bằng, có độ dốc nghiêng từ Tây sang Đông và dốc theo hướng chảy của sông Âm, sông Cầu Chày. Cao độ phía cực Tây Bắc của vùng từ 2025m trũng nhất là ven hạ du sông Cầu Chày. Dạng địa hình này xen kẽ có những đồi bát úp và thung lũng rộng, trũng và sâu.
Cây lương thực và hoa màu phân bố chủ yếu từ cao độ +18m trở xuống, từ cao độ +18m đến +40m là sườn đồi, cây trồng chủ yếu là mía, cam và cao su. Từ cao độ +40m trở lên là rừng thưa, luồng, tre nứa và bụi rậm. Phía Bắc được giới hạn bởi đê sông Mã, phía Đông - Đông Nam là hạ du đê sông Chu. Do địa hình hạ du sông Cầu Chày thấp lại chịu ảnh hưởng nước lũ sông Mã nên việc tiêu thoát nước rất khó khăn nhất là về mùa lũ.
Vùng Nam sông Chu: Đây là vùng phía Nam của sông Chu một nhánh lớn của sông Mã. Độ dốc địa hình từ Tây Nam sang Đông Bắc và từ Tây sang Đông. Điểm cao nhất là khu Thọ Xuân, Sao Vàng 2025m thấp nhất vùng ven sông Yên 0,70,5m. Cao độ 10 mặt đất đại bộ phận dưới +10m, là vùng trồng cây lương thực trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa.
Tiểu vùng hạ sông Bưởi: Đây là vùng đồi núi thấp của hạ du sông Bưởi từ Kim Tân tới tả ngạn sông Mã. Hướng dốc chính theo chiều Bắc Nam. Đồng bằng nơi cao nhất đạt 15 - 20m, nơi trũng nhất đạt +2,5m. Những vùng trũng như Hón Nga, Vĩnh Hùng, Hà Linh, Cầu Mủ thường bị ngập úng khi có lũ.
Dạng địa hình này nằm trọn vẹn trong hai huyện Vĩnh Lộc và Nam Thạch Thành. Địa hình chủ yếu là đất dốc, đồi thoải rất thích hợp cho vùng trồng mía. Phần lớn các trạm khí tượng thuỷ văn trên lưu vực sông Mã được xây dựng từ sau năm 1954, phổ biến từ 1960 tới nay. Tuy nhiên một số trạm đo mưa, khí hậu được thành lập từ trước năm 1954 như trạm Như Xuân (1928), Bái Thượng (1921), Thanh Hoá (1899), Hồi Xuân (1923).
Số liệu này đo đạc không được liên tục do chiến tranh gián đoạn từ những năm 1944, 1945 tới 1954. Sau ngày hoà bình lập lại lưới trạm khí tượng thuỷ văn được phát triển rộng tuy nhiên do chiến tranh và khó khăn về kinh tế nên những năm 1979 - 1980 nhiều trạm khí tượng thuỷ văn đã bị hạ cấp hoặc ngừng đo.