ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là “lá phổi xanh” của trái đất, là sự sống của nhân loại, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát sinh, tồn tại và sự phát triển của sinh vật nói chung và con ngƣời nói riêng. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, trong thời gian gần đây diện tích cũng nhƣ chất lƣợng rừng ngày càng bị giảm sút. Một trong những nguyên nhân đó là do cháy rừng. Cháy rừng là hiện tƣợng phổ biến, xảy ra ở hầu hết các quốc gia có rừng trên thế giới, trong đó có Việt Nam, cho dù vấn đề này đã nhận đƣợc sự quan tâm lớn của các chính phủ, các tổ chức, các nhà quản lý, những nhà chuyên môn và những ngƣời quan tâm đến lĩnh vực lâm nghiệp.
Cháy rừng đã gây nên những hậu quả tiêu cực lớn đến môi trƣờng sống, nguồn tài nguyên thiên nhiên và thậm chí cả tính mạng con ngƣời. Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm nghiệp (2014) [5] trong giai đoạn 10 năm (2002-2011), cả nƣớc đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị thiệt hại 49. Bình quân 715 vụ/năm, diện tích rừng bị thiệt hại gần 5. Cả nƣớc hiện có trên 13,5 triệu ha rừng (10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 3,2 triệu ha rừng trồng), trong đó, có trên 50% là diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, chủ yếu là rừng: Thông, tràm, tre nứa, keo, bạch đàn, rừng khộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên.
Trong 10 năm tới, diện tích rừng trồng của cả nƣớc sẽ tăng thêm 2,6 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh tăng 750. Diện tích rừng trồng, rừng non do khoanh nuôi tái sinh ngày càng đƣợc mở rộng, cùng với diễn biến bất thƣờng của thời tiết làm tăng nguy cơ cháy rừng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và môi trƣờng sống. Xã Xuân Chinh, Thƣờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một trong những trọng điểm cháy rừng của huyện. Mặc dù công tác PCCCR đã đƣợc lãnh đạo các cấp, các ngành và ngƣời dân quan tâm, đặc biệt trong suốt mùa cháy rừng nhƣng cháy rừng vẫn thƣờng xuyên xảy ra.
Nguyên nhân chủ yếu là xã Xuân Chinh có đặc điểm rừng và điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sự xuất hiện và lan tràn của các đám cháy rừng, ngoài ra còn do một số nguyên nhân khác 1 nhƣ: Ban chỉ huy PCCCR của xã chƣa xác định đƣợc mức độ cháy của các vùng trọng điểm; các giải pháp và phƣơng án PCCCR hàng năm tuy đã đƣợc xây dựng nhƣng chƣa thật hợp lý và việc triển khai, thực hiện chƣa đầy đủ, sự phối hợp các lực lƣợng trong PCCCR ở địa phƣơng còn chƣa đồng bộ. Chỉ tính đến từ năm 2006 đến năm 2014 (theo số liệu của hạt Kiểm lâm huyện Thƣờng Xuân) [6] [21] trên địa bàn xã đã xảy ra 6 vụ cháy thiệt hại 24,8ha. Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra tại xã Xuân Chinh, cần xác định đƣợc cấp độ nguy cơ của từng vùng trọng điểm cháy, xây dựng và triển khai phƣơng án phòng và chữa cháy rừng có cơ sở khoa học và thực tiễn. Từ nhƣng lý do trên, tôi xin thực hiện khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng cho xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Nghiên cứu về PCCCR trên thế giới đã đƣợc tiến hành từ đầu thế kỷ XX. Thời kỳ đấu tập trung ở một số nƣớc có nền kinh tế và lâm nghiệp phát triền nhƣ: Nga, Mỹ, Đức, Canada. Đó cũng là những quốc gia thƣờng xảy ra các đám cháy rừng trên diện tích lớn, gây nhiều thiệt hại. Sau đó đƣợc phát triển trên tất cả các nƣớc có hoạt động lâm nghiệp trên thế giới.
Cho đến nay, những nghiên cứu về quản lý lửa rừng chia thànhnăm lĩnh vực chính nhƣ sau: Bản chất của cháy rừng; Phƣơng pháp dự báo nguy cơ cháy rừng; Các công trình PCCCR; Phƣơng pháp chữa cháy rừng và phƣơng tiện chữa cháy rừng. a- Nghiên cứu bản chất của cháy rừng Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng cháy rừng là hiện tƣợng ôxy hoá các vật liệu hữu cơ do cháy rừng tạo ra ở nhiệt độ cao. Nó xẩy ra khi có mặt đồng thời của ba yếu tố: nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy (VLC) [1], [9], [14], [26]. Sự kết hợp của các yếu tố này còn đƣợc gọi là “tam giác lửa”.
Về bản chất, những biện pháp PCCCR chính là những biện pháp tác động vào ba yếu tố trên theo chiều hƣớng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là thời tiết, đặc điểm lâm phần và hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời [3]. Thời tiết quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm của vật liệu cháy, dẫn đến khả năng bén lửa và tốc độ lan tràn của đám cháy; các nhân tố khí tƣợng chủ yếu ảnh hƣởng đến quá trình cháy gồm: mƣa, gió, nhiệt độ và độ ẩm tƣơng đối của không khí. Đặc điểm của lâm phần có thể ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đặc điểm và tính chất của VLC, từ đó ảnh hƣởng tới sự phát sinh và lan tràn của đám cháy rừng.
Cấu trúc tầng thứ của rừng hình thành các loại cháy rừng khác nhau; VLC càng nhiều, xốp và độ ẩm thấp dẫn đến khả năng bén lửa cao và lan tràn cao. Nhiệt 3 độ và độ ẩm không khí có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động ngƣợc tới sự biến đổi của độ ẩm của vật liệu cháy. Hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời là nguyên nhân chính gây nên hình thành các vụ cháy rừng từ các hoạt động sử dụng lửa ở trong rừng và ven rừng, trong đó có cả từ những mâu thuẫn trong nhân dân. Cơ bản các biện pháp PCCCR đƣợc xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm của ba yếu tố trên, trong từng hoàn cảnh của địa phƣơng.
b- Nghiên cứu phƣơng pháp dự báo nguy cơ cháy rừng Hiện nay trên thế giới đang sử dụng nhiều phƣơng pháp để dự báo cháy rừng, nhƣng có thể phân thành hai loại chính dựa trên hai cơ sở khác nhau là: dự báo cháy rừng căn cứ vào điều kiện khí tƣợng và căn cứ vào tình hình VLC kết hợp với điều kiện khí tƣợng là [4], [9], [16]. Các Quốc gia áp dụng vào tình hình thực tế có sự khác nhau nhất định. Ở Thụy Điển và một số nƣớc vùng bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ cao nhất trong ngày; Pháp tính thêm lƣợng nƣớc hữu hiệu trong đất và độ ẩm không khí [11]; Trung Quốc bổ sung tốc độ gió, số ngày không mƣa và lƣợng bão hòa[26]; Đức và Mỹ sử dụng thêm độ ẩm không khí [14]; Nga và một số nƣớc khác dùng nhiệt độ và độ ẩm không khí lúc 13 giờ, [1], [3], [11], [14]. Trong những năm gần đây Trung Quốc đã nghiên cứu phƣơng pháp cho điểm các nhân tố ảnh hƣởng đến nguy cơ cháy rừng (NCCR), trong đó gồm cả những yếu tố kinh tế - xã hội [16].
Mặc dù phƣơng pháp dự báo NCCR có những nét giống nhau, nhƣng đến nay vẫn chƣa có phƣơng pháp dự báo NCCR chung cho cả thế giới và thậm chí trong một Quốc gia,ở mỗi địa phƣơng cũng có thể sử dụng một số phƣơng pháp dự báo khác nhau. c- Nghiên cứu về công trình phòng cháy, chữa cháy rừng Những năm đầu thế kỷ XX, ở một số quốc gia Châu Âu đã bƣớc đầu đƣa ra những ý kiến xây dựng đai xanh và băng xanh cản lửa, trên đó có trồng các cây lá rộng. Ở Nga, các nhà khoa học đã xây dựng những băng xanh chịu lửa với kết cấu hỗn loài, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào 4 các khu rừng thông, sồi, bạch đàn,.Một số nƣớc khác tiến hành nghiên cứu các vấn đề này sớm và có nhiều công trình là Đức và các nƣớc thuộc Liên Xô, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,. Nhìn chung trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định hiệu quả cao của các công trình PCCCR nhƣ: băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mƣơng ngăn cản cháy rừng.
Tuy nhiên, hiện vẫn chƣa đƣa ra tiêu chuẩn kỹ thuật một cách thống nhất cho các công trình đó. Những thông số kỹ thuật đƣa ra đều mang tính gợi ý và luôn đƣợc điều chỉnh theo ý kiến các chuyên gia cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý từng địa phƣơng. d- Nghiên cứu biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng Các nghiên cứu chủ yếu hƣớng vào làm suy giảm các thành phần của tam giác lửa. Trong đó biện pháp phòng cháy rừng đƣợc sử dụng chủ yếu, bao gồm: tổ chức lực lƣợng PCCCR, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của ngƣời dân, chuẩn bị lực lƣợng, phƣơng tiện chữa cháy, dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng với việc ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám, các biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng chống chịu lửa của cây rừng, làm giảm VLC v.
Trong công tác chữa cháy rừng, cần thực hiện tốt phƣơng châm “4 tại chỗ”. Đó là lực lƣợng, phƣơng tiện, chỉ huy và hậu cần tại chỗ. Trong những năm gần đây nhiều nhà khoa học ở các nƣớc đã đi sâu nghiên cứu và sử dụng nhiều phƣơng tiện hiện đại trong chữa cháy rừng. e- Nghiên cứu về phân vùng trọng điểm cháy rừng Việc phân vùng trọng điểm cháy thƣờng căn cứ vào đặc điểm của các nhân tố ảnh hƣởng đến cháy rừng để phân chia lãnh thổ thành những khu vực có nguy cơ cháy rừng khác nhau.
Cho đến nay có hai phƣơng pháp đƣợc áp dụng chủ yếu để phân vùng trọng điểm cháy rừng: Phân vùng theo các nhân tố ảnh hƣởng đến cháy rừng và phân theo thực trạng cháy rừng [16]. Theo phƣơng pháp thứ nhất phân theo điều kiện hoàn cảnh sinh thái nhƣ khí hậu, 5 địa hình và trạng thái rừng; theo phƣơng pháp thứ hai căn cứ vào thống kê số vụ cháy rừng, diện tích và trạng thái rừng bị thiệt hại ở từng khu vực trong nhiều năm liên tục. Những vùng có nguy cơ cháy cao là nơi có tần suất xuất hiện cháy rừng nhiều và mức độ thiệt hại lớn. Còn những vùng có nguy cơ cháy thấp là những vùng ít xảy ra cháy rừng.
Ở Việt Nam a- Nghiên cứu về dự báo nguy cơ cháy rừng Nghiên cứu về dự báo cháy rừng ở Việt Nam đƣợc bắt đầu vào những năm 80 của thể kỷ XX.