Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sau khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các đơn vị sản xuất kinh doanh không còn được bao cấp về cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra. Trong bối cảnh tự chủ kinh doanh và cạnh tranh để tồn tại, thị trường trở thành yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp và các cấp quản lý giải quyết ba vấn đề cốt lõi của kinh tế học: sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu và sản xuất cho ai.
Tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập vào ngày 01/01/1997 theo Quyết định của Quốc hội (tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú cũ thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ). Là một tỉnh mới được tái lập, Vĩnh Phúc đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập trong công tác quản lý và điều hành mạng lưới phân phối. Tuy nhiên, với vị trí địa lý thuận lợi gần thủ đô Hà Nội, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và sở hữu tiềm năng tự nhiên đa dạng, nhu cầu phát triển thị trường hàng hóa - dịch vụ của tỉnh là đòi hỏi cấp thiết nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện.
Khóa luận tốt nghiệp tập trung giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường, nghiên cứu thị trường và vai trò của thị trường đối với sự phát triển hàng hóa - dịch vụ.
- Phân tích các đặc điểm kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên và đánh giá thực trạng phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, xuất nhập khẩu, hạ tầng thương mại của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2002.
- Dự báo nhu cầu, định hướng mục tiêu và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm phát triển thị trường hàng hóa - dịch vụ của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2010.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lưu thông, phân phối, xuất nhập khẩu và các quan hệ kinh tế cấu thành thị trường hàng hóa - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Vĩnh Phúc gồm 1 thị xã (Vĩnh Yên) và 6 huyện (Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh, Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng thu thập và phân tích từ năm 1997 đến năm 2002; các chỉ tiêu định hướng và giải pháp dự báo được xây dựng cho giai đoạn đến năm 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi
Tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm và phạm trù kinh tế thị trường:
- Khái niệm thị trường: Phân biệt định nghĩa cổ điển (thị trường thu hẹp trong phạm vi không gian "cái chợ" - nơi người mua và người bán trực tiếp gặp nhau để trao đổi hàng hóa) và định nghĩa hiện đại (thị trường là tổng thể các mối quan hệ về lưu thông hàng hóa, tiền tệ và các giao dịch mua bán, nơi người mua và người bán tác động qua lại để xác định giá cả và sản lượng). Tác giả cũng trích dẫn định nghĩa của E. Jerome McCarthy: thị trường là nhóm khách hàng tiềm năng có những nhu cầu tương tự và những người bán đưa ra các sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.
- Bản chất của nghiên cứu thị trường: Được định nghĩa là quá trình nhận dạng, lựa chọn, thu thập, phân tích và phổ biến thông tin nhằm hỗ trợ việc ra quyết định liên quan đến việc xác định, xử lý các vấn đề và cơ hội Marketing.
- So sánh quan điểm bán hàng và quan điểm Marketing (theo Theodore Levitt):
- Quan điểm bán hàng: Nhìn từ trong ra ngoài (từ nhà máy, sản phẩm hiện có), tập trung vào nhu cầu của người bán với mục tiêu biến sản phẩm thành tiền thông qua các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mại.
- Quan điểm Marketing: Nhìn từ ngoài vào trong (từ thị trường mục tiêu), tập trung vào nhu cầu của người mua, thỏa mãn nhu cầu khách hàng thông qua Marketing hỗn hợp và đảm bảo khả năng sinh lời.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong kinh tế thương mại:
- Phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp: Thu thập, phân loại, lập bảng biểu để so sánh tốc độ tăng trưởng, cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và lưu chuyển hàng hóa.
- Phương pháp dự báo kinh tế: Áp dụng mô hình chi tiêu của Ngân hàng Châu Á (ADB) để dự báo quỹ mua hàng hóa dựa trên mức thu nhập bình quân:
- Thu nhập dưới 300 USD/năm: Chi tiêu cho hàng hóa chiếm 95% thu nhập.
- Thu nhập từ 500 đến 700 USD/năm: Chi tiêu cho hàng hóa chiếm 85% thu nhập.
- Thu nhập từ 700 đến 1.000 USD/năm: Chi tiêu cho hàng hóa chiếm 70% thu nhập.
- Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc, cùng các báo cáo của Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á - Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Đặc điểm kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc và yêu cầu phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ
Chương này tập trung làm rõ các điều kiện tự nhiên, dân sinh và bức tranh kinh tế tổng thể ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường của tỉnh:
-
Điều kiện tự nhiên và phân vùng sinh thái:
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, tiếp giáp Hà Nội, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Tây cũ. Địa hình phân hóa thành 3 vùng sinh thái rõ rệt:
- Vùng đồng bằng: Diện tích 46,8 nghìn ha (đất nông nghiệp 32,9 nghìn ha), gồm 76 xã, phường, thị trấn thuộc Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh, Bình Xuyên, Tam Dương.
- Vùng trung du: Diện tích 24,9 nghìn ha (đất nông nghiệp 14,0 nghìn ha), gồm 32 xã/phường thuộc Tam Dương, Bình Xuyên, Lập Thạch, Vĩnh Yên, Mê Linh.
- Vùng miền núi: Diện tích 65,3 nghìn ha (đất nông nghiệp 17,4 nghìn ha, đất lâm nghiệp 20,3 nghìn ha), chủ yếu thuộc Lập Thạch (28 xã), Tam Dương, Bình Xuyên, Mê Linh và thị trấn Tam Đảo.
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm 23,2°C (vùng núi Tam Đảo 18,2°C), độ ẩm trung bình 84 - 85%, số giờ nắng 1.340 - 1.800 giờ/năm (Tam Đảo 1.000 - 1.400 giờ/năm).
-
Dân số, lao động và thu nhập:
- Dân số toàn tỉnh cuối năm 2001 là 1.115.785 người, mật độ 805,59 người/km², tốc độ tăng dân số 1,703%. Thành phần dân tộc gồm người Kinh (97,1%), người Sán Dìu (2,5%) và khoảng 20 dân tộc khác.
- Nguồn lao động năm 2001 đạt 584,59 nghìn người; trong đó lao động trong độ tuổi là 499,7 nghìn người (chiếm 64% dân số). Lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 526,47 nghìn người.
- Thu nhập bình quân của hộ gia đình dao động trong khoảng 100 - 300 USD/người/năm.
-
Thực trạng các ngành sản xuất tác động đến nguồn cung hàng hóa (năm 2002):
- Công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 1.328,2 tỷ đồng, tăng 159,5% so với năm 2000 (vượt kế hoạch 27,5%). Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng chi phối 60,8% (đạt 654,4 tỷ đồng) với sự góp mặt của các doanh nghiệp lớn: Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Phanh Nissin, Mút xốp Việt Khánh, Viet Metal, Takanichi. Công nghiệp ngoài nhà nước đạt 256,3 tỷ đồng; công nghiệp trung ương đạt 234,1 tỷ đồng; công nghiệp nhà nước địa phương đạt 32,4 tỷ đồng.
- Nông - lâm nghiệp: Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ 2001 - 2002 đạt 119,56 nghìn ha. Năng suất lúa đạt 32 tạ/ha, ngô đạt 27,4 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 323,93 nghìn tấn (thóc đạt 242,81 nghìn tấn, màu quy thóc đạt 81,12 nghìn tấn). Trồng rừng tập trung năm 2002 đạt 1.800 ha (địa phương thực hiện 720 ha).
- Dịch vụ và hạ tầng: Doanh thu vận tải năm 2002 đạt 55,632 tỷ đồng (vận tải hàng hóa chiếm 48,087 tỷ đồng, tương đương 86,4%). Doanh thu du lịch đạt 62,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so với năm 2001. Hệ thống viễn thông đạt mật độ 1 máy điện thoại/30 người (14.538 máy cố định). Toàn tỉnh có 900 km đường bộ (Quốc lộ 2 dài 110 km, 5 tuyến tỉnh lộ dài 78 km, đường huyện dài 314 km, đường nông thôn dài 958 km). Tỷ lệ dân cư sử dụng nước máy đạt 15%.
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Giá trị thực hiện |
Ghi chú / Cơ cấu |
| Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (1997 - 2002) |
17,53%/năm |
Toàn quốc đạt 18,2% |
| - Tăng trưởng Công nghiệp - Xây dựng |
27,3%/năm |
Nhóm ngành dẫn đầu |
| - Tăng trưởng Dịch vụ |
9,6%/năm |
Khu vực thương mại - dịch vụ |
| - Tăng trưởng Nông nghiệp |
4,2%/năm |
Khu vực nông - lâm - thủy sản |
| GDP bình quân đầu người (năm 2002) |
2.607,5 nghìn đồng |
Bằng 40,9% bình quân cả nước |
| Cơ cấu GDP theo ngành (2001 so với 2002) |
|
|
| - Nông, lâm nghiệp, thủy sản |
63,3% (2001) → 52,71% (2002) |
Xu hướng giảm tỷ trọng |
| - Công nghiệp - Xây dựng |
10,29% (2000) → 19,12% (2002) |
Tăng tỷ trọng nhanh |
| - Dịch vụ |
36,48% (2001) → 42,60% (2002) |
Tăng trưởng ổn định |
Chương II: Thực trạng thị trường hàng hoá dịch vụ tỉnh Vĩnh Phúc
Chương II đi sâu vào đánh giá các kênh lưu chuyển hàng hóa, hoạt động xuất nhập khẩu và mạng lưới hạ tầng thương mại của tỉnh:
- Lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và bán buôn:
- Bán lẻ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 2002 đạt 362,812 tỷ đồng, gấp 1,43 lần năm 2001. Cơ cấu bán lẻ chuyển dịch mạnh mẽ từ khu vực quốc doanh sang khu vực tư nhân.
| Thành phần kinh tế |
Năm 1995 (%) |
Năm 1998 (%) |
Năm 1999 (%) |
Năm 2000 (%) |
Năm 2001 (%) |
| Kinh tế Nhà nước |
53,20 |
30,20 |
28,30 |
32,10 |
4,33 |
| Kinh tế tập thể |
9,80 |
1,30 |
0,90 |
1,00 |
0,07 |
| Kinh tế tư nhân |
37,00 |
68,50 |
70,80 |
66,90 |
84,80 |
| Tổng số |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
- Cung ứng miền núi: Thương nghiệp nhà nước thực hiện tốt chính sách trợ cước, trợ giá. Năm 2001 đã cung ứng cho vùng miền núi: 250 tấn dầu hỏa thắp sáng, 1.020 tấn muối i-ốt, 12 tấn thuốc chữa bệnh, 10 tấn thuốc trừ sâu, 41 tấn giống lúa, 2.000 tấn than và 1.200 tấn phân bón hóa học.
- Bán buôn: Năm 2002, tổng mức bán buôn đạt 2.745,513 tỷ đồng. Trong đó, kinh tế tư nhân chiếm 60,92% (1.672,453 tỷ đồng), khu vực FDI chiếm 21,70% (595,683 tỷ đồng), kinh tế nhà nước chiếm 16,39% (448,680 tỷ đồng), kinh tế hỗn hợp chiếm 1,00% (27,491 tỷ đồng), kinh tế tập thể chiếm 0,04% (1,206 tỷ đồng).
-
Hoạt động xuất nhập khẩu:
- Kim ngạch xuất khẩu: Tăng nhanh từ 3.152 nghìn USD (năm 2000) lên 4.644 nghìn USD (năm 2001) và đạt 18.763 nghìn USD (năm 2002). Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản sơ chế: chuối tiêu (đạt 11.000 tấn năm 2002), quế xô (3.725 tấn năm 2002), lạc nhân (2.725 tấn năm 2002), chè (750 tấn năm 2002), gạo, tinh bột ngô, mút xốp, giày thể thao. Trên địa bàn tỉnh chưa có doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu mà phải thông qua ủy thác, đại lý hoặc công ty TNHH trung gian.
- Kim ngạch nhập khẩu: Năm 2001 đạt 202.898,3 nghìn USD (tổng kim ngạch thời kỳ đạt 225,384 triệu USD), tập trung vào máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ sản xuất của khối FDI. Hàng nhập khẩu gồm: 68 chiếc ô tô, 1.896 chiếc xe gắn máy, 6.760 tấn thép, 390 tấn tủ lạnh, 300 tấn phân bón và 330 nghìn mét vải sợi.
-
Cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức thương nghiệp:
- Mạng lưới bán lẻ xăng dầu: Toàn tỉnh có 34 cửa hàng xăng dầu cơ điện phân bố tại các huyện/thị: Vĩnh Yên (5 cửa hàng), Tam Dương (3), Bình Xuyên (8), Yên Lạc (5), Vĩnh Tường (4), Lập Thạch (3), Mê Linh (6). Mạng lưới này chưa có quy hoạch vị trí đồng bộ.
- Hệ thống chợ: Hệ thống chợ nông thôn và chợ phiên đóng vai trò chủ đạo trong giao thương nhưng hạ tầng còn thô sơ (huyện Bình Xuyên có 7 chợ với diện tích 10.000 m², Mê Linh có 5 chợ với diện tích 10.000 m²). Tỉnh chưa xây dựng được trung tâm thương mại hay siêu thị quy mô lớn tại các đô thị trung tâm.
- Tổ chức kinh doanh: Toàn tỉnh có 15 doanh nghiệp thương nghiệp nhà nước (tổng doanh thu 317,570 tỷ đồng). Khối thương nghiệp ngoài quốc doanh năm 2002 gồm: 24 doanh nghiệp tư nhân (vốn 2,399 tỷ đồng, nộp thuế 113,4 triệu đồng), 11 công ty TNHH (vốn 12,836 tỷ đồng, nộp thuế 179,2 triệu đồng) và 5.301 hộ cá thể (vốn 15,540 tỷ đồng, nộp thuế 2,072 tỷ đồng).
Chương III: Một số giải pháp phát triển thị trường hàng hoá - dịch vụ Vĩnh Phúc đến 2010
Chương cuối cùng xây dựng các kịch bản dự báo, xác định mục tiêu và đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:
- Dự báo nhu cầu và quỹ mua hàng hóa đến năm 2010:
- Dự báo thu nhập bình quân: Đến năm 2010, thị xã Vĩnh Yên đạt mức cao nhất (1.200 USD/người/năm), tiếp theo là Mê Linh (1.000 USD), Yên Lạc, Tam Dương, Bình Xuyên (800 USD), Vĩnh Tường (720 USD), Lập Thạch (680 USD).
- Dự báo quỹ mua hàng của dân cư: Tổng quỹ mua của tỉnh năm 2010 dự kiến đạt 5.045 nghìn tỷ đồng, gấp 9 lần so với năm 2000. Sức mua cao nhất tập trung tại Vĩnh Yên (840 tỷ đồng), Mê Linh (700 tỷ đồng), Yên Lạc, Tam Dương, Bình Xuyên (mỗi huyện 560 tỷ đồng).
- Dự báo tăng trưởng và cơ cấu GDP ngành thương mại:
| Chỉ tiêu dự báo |
Giai đoạn 2001 - 2005 |
Giai đoạn 2006 - 2010 |
| Tốc độ tăng trưởng GDP toàn tỉnh |
20,2%/năm |
11,0%/năm |
| Tốc độ tăng trưởng GDP thương mại |
16,5%/năm |
11,1%/năm |
| Giá trị GDP thương mại (giá so sánh 1994) |
906,6 tỷ đồng (năm 2005) |
2.490,7 tỷ đồng (năm 2010) |
| Tỷ trọng GDP thương mại trong GDP tỉnh |
21,0% (năm 2005) |
33,0% (năm 2010) |
| Cơ cấu kinh tế toàn tỉnh năm 2010 |
Nông - Lâm - Thủy sản: 12% |
CN - Xây dựng: 55% | Dịch vụ: 33% |
- Dự báo khối lượng tiêu thụ một số mặt hàng chủ yếu đến năm 2010: Xăng dầu đạt 207 nghìn tấn; xi măng đạt 320 nghìn tấn; vải sợi đạt 17 triệu mét; ti vi đạt 26.667 chiếc; radio đạt 23.796 chiếc.
-
Mục tiêu phát triển thị trường:
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng thị trường lành mạnh, văn minh, hiện đại; phát triển thương nghiệp thành đòn bẩy thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội.
- Mục tiêu cụ thể: Giá trị hàng hóa bán ra nội tỉnh tăng bình quân 30%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 27 - 28%/năm; tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 25 - 30%/năm. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu: công nghiệp nhẹ tăng 55%/năm, công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 30%/năm, nông - lâm sản tăng 16%/năm. Cơ cấu hàng nhập khẩu: nguyên nhiên vật liệu và thiết bị lẻ chiếm 73%, thiết bị theo dự án chiếm 15%, hàng tiêu dùng chiếm 12%.
-
Hệ thống giải pháp thực hiện:
- Nhóm giải pháp về chính sách thương mại: Thực hiện cơ chế "một cửa, một dấu" trong đăng ký kinh doanh; hỗ trợ thương nhân khu vực miền núi qua đào tạo kỹ năng tiếp thị, quản trị; tuyên truyền thực thi Luật Hợp tác xã kiểu mới; thiết lập hệ thống cung cấp thông tin thị trường, giá cả qua đài truyền hình, báo chí và điện thoại.
- Nhóm giải pháp về cơ chế quản lý thương mại: Giảm thiểu can thiệp hành chính trực tiếp, chuyển sang điều tiết gián tiếp bằng công cụ kinh tế; nâng cao năng lực của lực lượng Quản lý thị trường nhằm xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại; xây dựng các trung tâm thương mại tại thị xã Vĩnh Yên, thị trấn Phúc Yên và phát huy vai trò của làng thương mại Thổ Tang (huyện Vĩnh Tường).
- Nhóm giải pháp tổ chức thị trường nội tỉnh theo địa bàn:
- Thị trường đô thị: Tổ chức hệ thống phân phối nhiều tầng; phát triển các công ty chuyên doanh bán buôn liên kết với nhà sản xuất; hình thành trung tâm thương mại, siêu thị và hệ thống kho bán buôn.
- Thị trường nông thôn: Lấy chợ và cụm thương mại - dịch vụ tại thị trấn, thị tứ làm hạt nhân; hỗ trợ nông dân tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp.
- Thị trường miền núi: Củng cố thương nghiệp nhà nước để cung ứng hàng chính sách xã hội và thu mua nông lâm sản; tận dụng các trạm y tế, lâm trường, trường học làm mạng lưới đại lý; nâng cấp chất lượng hoạt động của hệ thống chợ phiên truyền thống.
- Nhóm giải pháp phát triển xuất nhập khẩu: Đa phương hóa thị trường xuất khẩu, không phụ thuộc vào một thị trường duy nhất; chuyển dịch cơ cấu sang sản phẩm chế biến sâu, giảm xuất khẩu nông sản thô; đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu (chính ngạch, tiểu ngạch, xuất khẩu tại chỗ); ưu tiên vốn nhập khẩu công nghệ nguồn, máy móc hiện đại phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
- Nhóm giải pháp về vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật: Sử dụng vốn ngân sách để xây dựng kho bãi, chợ miền núi và hạ tầng thương mại trọng điểm; thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (Nhà nước giữ cổ phần chi phối ở doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng then chốt, cổ phần hóa rộng rãi ở các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ); huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, nguồn vốn kiều hối và doanh nghiệp FDI.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa bức tranh thương mại giai đoạn 1997 - 2002: Báo cáo cung cấp chuỗi số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu lưu chuyển hàng hóa bán lẻ, bán buôn, tình hình cung ứng miền núi, hoạt động xuất nhập khẩu và phân bổ mạng lưới 34 cây xăng, chợ truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc sau 5 năm tái lập.
- Xây dựng kịch bản dự báo có căn cứ khoa học: Sử dụng phương pháp luận của Ngân hàng Châu Á (ADB) và số liệu của Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á - Việt Nam để đưa ra các dự báo định lượng về thu nhập, sức mua, GDP thương mại và nhu cầu 5 nhóm sản phẩm trọng yếu đến năm 2010.
- Đề xuất giải pháp phân vùng không gian thương mại: Khóa luận đã phân tách rõ nét chiến lược phát triển thương mại cho 3 tiểu vùng (đô thị, nông thôn, miền núi), gắn kết vai trò hạt nhân của các đô thị (Vĩnh Yên, Phúc Yên) và đầu mối trung chuyển nông sản Thổ Tang với sự phát triển chung của toàn tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do thời gian thực tập ngắn và phạm vi thu thập số liệu tại thời điểm năm 2002 còn khó khăn sau khi tái lập tỉnh, một số phân tích về chi phí vận chuyển, logistics và chuỗi liên kết giá trị nông sản chưa được lượng hóa chi tiết. Tác giả tự nhìn nhận trình độ nghiên cứu còn những hạn chế nhất định.
- Hướng mở rộng: Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong việc xây dựng mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại lớn; đánh giá tác động cụ thể của tiến trình gia nhập WTO đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của tỉnh Vĩnh Phúc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên ngành Thương mại, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh; cán bộ quản lý tại Sở Công Thương (Sở Thương mại - Du lịch cũ), Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Khung lý thuyết so sánh quan điểm bán hàng và quan điểm Marketing của Theodore Levitt.
- Bộ số liệu lịch sử về quá trình chuyển dịch cơ cấu thương nghiệp từ quốc doanh sang tư nhân tại Vĩnh Phúc giai đoạn 1995 - 2002.
- Phương pháp phân tích quy hoạch mạng lưới chợ và trạm xăng dầu trên địa bàn cấp tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình nào để dự báo quỹ mua sắm hàng hóa của người dân tỉnh Vĩnh Phúc?
Khóa luận áp dụng mô hình định mức chi tiêu theo thu nhập của Ngân hàng Châu Á (ADB): mức thu nhập dưới 300 USD/năm dành 95% thu nhập để mua sắm; mức thu nhập từ 500 - 700 USD/năm chi 85%; mức thu nhập từ 700 - 1.000 USD/năm chi 70% thu nhập cho tiêu dùng hàng hóa.
2. Cơ cấu lưu chuyển hàng hóa bán lẻ của tỉnh Vĩnh Phúc chuyển biến ra sao trong giai đoạn 1995 - 2001?
Có sự chuyển dịch vượt bậc từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực tư nhân: năm 1995, kinh tế nhà nước chiếm 53,20%, tư nhân chiếm 37,00%; đến năm 2001, tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm xuống còn 4,33%, trong khi kinh tế tư nhân tăng mạnh lên chiếm 84,80% tổng mức bán lẻ toàn tỉnh.
3. Khối doanh nghiệp FDI đóng góp như thế nào vào giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 2002?
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt giá trị sản xuất 654,4 tỷ đồng, chiếm 60,8% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, với sự dẫn dắt của các doanh nghiệp như Toyota Việt Nam, Honda Việt Nam, Phanh Nissin, Mút xốp Việt Khánh.
4. Điểm hạn chế lớn nhất trong hoạt động xuất khẩu của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2000 - 2002 là gì?
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông sản thô hoặc mới qua sơ chế (chuối tiêu, quế xô, chè, lạc nhân) nên giá trị gia tăng thấp; đồng thời trên địa bàn tỉnh chưa có doanh nghiệp nào đủ năng lực xuất khẩu trực tiếp mà phải thông qua các đơn vị trung gian, đại lý hoặc công ty TNHH ủy thác.
5. Giải pháp tổ chức thị trường miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc được tác giả đề xuất như thế nào?
Tác giả đề xuất củng cố thương nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng các mặt hàng chính sách xã hội (muối, dầu hỏa, thuốc chữa bệnh, phân bón) và thu mua lâm thổ sản; tận dụng lực lượng bộ đội, trạm y tế, trường học làm đại lý; đồng thời đầu tư quản lý và phát huy nét văn hóa - kinh tế của các phiên chợ truyền thống.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả đã phản ánh toàn diện bức tranh kinh tế - thương mại tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 5 năm đầu sau khi tái lập tỉnh (1997 - 2002). Thông qua việc phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lưu chuyển hàng hóa, hạ tầng bán lẻ và xuất nhập khẩu, công trình đã xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu đến năm 2010 dựa trên cơ sở khoa học rõ ràng. Các giải pháp đề xuất về chính sách thương mại "một cửa", phân vùng thị trường 3 khu vực sinh thái và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác quản lý kinh tế thương mại của địa phương.