Đặt vấn đề Cây ngô là một trong những loại cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế của toàn cầu, góp phần nuôi sống 1/3 dân số trên thế giới. Ngày nay, ngô đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước về diện tích, đứng đầu về năng suất và sản lượng. Ngô là cây trồng đã giúp loài người giải quyết nạn đói thường xuyên. Vào cuối thế kỷ XX, cuộc cách mạng về ngô lai đã tạo nên các thành tựu kỳ diệu ở các châu lục, đặc biệt là các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Ý.
Đi đôi với việc áp dụng ưu thế lai trong quá trình chọn tạo giống, những tiến bộ về kỹ thuật canh tác tiên tiến như cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, bảo vệ thực vật cũng được áp dụng kịp thời để khai thác tối đa ưu thế của giống ngô lai. Ngô lai được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong việc phát triển nông nghiệp thế giới của thế kỷ XX. Từ những nhận thức về vai trò của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nói chung và nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách và phương hướng đúng đắn cho công tác nghiên cứu khoa học, tiếp thu những thành tựu của thế giới với mục đích duy trì diện tích, đột phá về năng suất và tăng nhanh sản lượng. Tuy nhiên, năng suất ngô ở nước ta vẫn chưa thật sự ổn định ở các vùng sinh thái, năng suất bình quân còn thấp so với khu vực, giá thành ngô ở nước ta cao hơn nhiều so với các nước trên thế giới, nhu cầu ngô cho thức ăn chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủ.
Để góp phần làm giảm những hạn chế trên, cần xác định đúng những giống ngô lai mới có năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của từng vùng, cần hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất với năng suất để có những hướng cụ thể từ khi chọn vật liệu lai tạo giống đến sử dụng các biện h 2 pháp canh tác phù hợp, phát huy tối đa tiềm năng của từng giống, tại mỗi vùng sinh thái. Xuất phát từ những lí do trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp phát triển sản xuất ngô lai trên địa bàn xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích thực trạng sản xuất ngô lai trong những năm vừa qua, đề ra những giải pháp thích hợp nhằm phát triển sản xuất ngô lai trên địa bàn xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sản xuất ngô lai tại xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. - Đánh giá được thực trạng sản xuất ngô lai trên địa bàn xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất ngô lai trên địa bàn xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu đề tài là cơ sở để vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tế cuộc sống, giúp cho sinh viên nhìn nhận một cách tổng quan về điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và cả nước nói chung. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với địa bàn. Ý nghĩa thực tiễn Đáp ứng được mục đích ứng dụng, nhân rộng mô hình trồng giống ngô lai, phát triển nông thôn tác động tích cực đến sinh kế của người dân. h 3 Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và cơ quan, ban ngành, đoàn thể trên địa bàn xã đưa ra được những biện pháp phát triển và cải thiện giống ngô có hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà nước quản lý, các cấp chính quyền địa phương, cán bộ xã đưa ra các quyết định và định hướng mới về phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi và mở rộng mô hình. Là cơ sở để người dân tham khảo trước khi ra quyết định phát triển và mở rộng sản xuất nhất là trong trồng trọt và phát triển cây ngô.3 Ý nghĩa trong học tập Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kiến thức. Nắm bắt rõ phương pháp học tập, làm việc và nghiên cứu khoa học trong thực tiễn. Kế thừa số liệu đã được thống kê thông qua cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn ở địa phương mình.
Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Một số vấn đề về phát triển sản xuất Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Theo ngân hàng thế giới (WB): Phát triển trước hết là sự tăng trưởng về kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con người. Theo viện nghiên cứu quản lý trung ương: Phát triển bao gồm sự tăng trưởng và thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi trên. Theo tác giả Raaman Weitz: Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội.
Tuy có rất nhiều khái niệm khác nhau về phát triển nhưng mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về chất và về lượng, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Tổng quan về cây ngô 2.
Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của cây ngô Ngô, bắp hay bẹ là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI. [6] Ngô là cây lương thực được gieo trồng nhiều nhất tại châu Mỹ. Các giống ngô lai ghép được các nông dân ưa chuộng hơn so với các giống, thứ ngô thông thường do có năng suất cao vì có ưu thế giống lai.
Thân cây ngô trồng tương tự như thân cây của các loài tre và các khớp nối (các mấu hay mắt) có thể có cách nhau khoảng 20–30 cm. Ngô có hình thái phát triển rất khác biệt, các lá hình mũi mác rộng bản, dài 50–100cm và rộng 5–10cm, thân cây thẳng, thông thường cao 2–3m, với nhiều mấu, với các lá tỏa ra từ mỗi mấu với bẹ nhẵn. Dưới các lá này và ôm sát thân cây là các bắp. Khi còn non chúng dài ra khoảng 3cm mỗi ngày.
Từ các đốt ở phía dưới sinh ra một số rễ. Các bắp ngô (bẹ ngô) là các cụm hoa cái hình bông, được bao bọc trong một số lớp lá, và được các lá này bao chặt vào thân đến mức chúng không lộ ra cho đến khi xuất hiện các râu ngô màu hung vàng từ vòng lá vào cuối của bắp ngô. Râu ngô là các núm nhụy thuôn dài trông giống như một búi tóc, ban đầu màu xanh lục và sau đó chuyển dần sang màu hung đỏ hay hung vàng. Khi được gieo trồng để làm cỏ ủ chua cho gia súc thì người ta gieo hạt dày đặc hơn và thu hoạch khi cây ngô bắt đầu xuất hiện các bắp non, do vậy tỷ lệ bắp là thấp.
Một vài giống ngô cũng được tạo ra với tỷ lệ bắp non cao hơn với mục đích tạo nguồn cung cấp các loại "ngô bao tử" được sử dụng trong ẩm thực của một số quốc gia tại châu Á. h 6 Ngô là loại thực vật cần thời gian ban đêm dài và ra hoa trong một lượng nhất định ngày nhiệt độ tăng trưởng > 10 °C trong môi trường mà nó thích nghi. Biên độ ảnh hưởng mà thời gian ban đêm dài có đối với số ngày cần phải có để ngô ra hoa được quy định theo di truyền và được điều chỉnh bởi hệ thống sắc tố thực vật. Tính chu kỳ theo ánh sáng có thể bị sai lệch ở các giống cây trồng cho khu vực nhiệt đới, nơi mà thời gian ban ngày kéo dài ở các cao độ lớn làm cho cây sẽ phát triển rất cao và chúng không đủ thời gian để ra hoa, tạo hạt trước khi bị chết vì sương giá.
Trên đỉnh của thân cây là cụm hoa đuôi sóc hình chùy chứa các hoa đực, được gọi là cờ ngô. Mỗi râu ngô đều có thể được thụ phấn để tạo ra một hạt ngô trên bắp. Các bắp ngô non có thể dùng làm rau ăn với toàn bộ lõi và râu, nhưng khi bắp đã già thì lõi ngô trở nên cứng và râu thì khô đi nên không ăn được. Vào cuối mỗi vụ mùa, các hạt ngô cũng khô và cứng, rất khó ăn nếu không được làm mềm bằng cách luộc.
Các kỹ thuật hiện đại trong trồng trọt tại các nước phát triển thông thường dựa trên việc gieo hạt dày hơn, tạo ra trung bình khoảng 0,9 bắp. Vai trò và ý nghĩa kinh tế của cây ngô trong nền kinh tế Ngô là cây lương thực quan trọng sau lúa mì và lúa gạo, nó đã nuôi sống 1/3 dân số thế giới. Sản phẩm của ngô được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như làm lương thực cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và là hàng hóa xuất khẩu.