CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NHTM 1.1 Một số nét chính về kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1.1 Giới thiệu về Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực tháng 10/1998 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật tổ chức tín dụng được quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Nghị định của chính phủ 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 định nghĩa “ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của nhà nước”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Như vậy có thể nói, Ngân hàng thương mại là một định chế trung gian cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ huy động, tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.2 Các loại hình ngân hàng thương mại Căn cứ vào hình thức sở hữu - Ngân hàng thương mại quốc doanh: Là các ngân hàng kinh doanh bằng vốn cấp phát của ngân sách nhà nước. - Ngân hàng thương mại cổ phần: là những ngân hàng hoạt động như công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. - Ngân hàng thương mại liên doanh: có vốn được góp bởi một bên là Ngân hàng Việt Nam và bên còn lại là ngân hàng nước ngoài, có trụ sở đặt tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo vốn và luật pháp nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam và chi nhánh này hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng - Ngân hàng bán buôn: số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng không nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm là rất lớn. Khách hàng chủ yếu của ngân hàng này là các công ty, xí nghiệp quy mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty. - Ngân hàng bán lẽ: số lượng sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng rất nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm thường không lớn, phần lớn ngân hàng này cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc sản xuất với quy mô nhỏ, hộ gia đình. Vì vậy, khách hàng chủ yếu là cá nhân hoặc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động - Ngân hàng chuyên doanh: Chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong một lĩnh vực nào đó như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu.v… hoặc một vài nghiệp vụ của ngân hàng. Do nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng nên loại hình ngân hàng này đang có xu hướng chuyển sang kinh doanh tổng hợp để bảo toàn và thu hút khách hàng. - Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép của một ngân hàng thương mại.2 Các nghiệp vụ của NHTM 1.1 Các nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, các nguồn vốn của NHTM bao gồm: - Vốn điều lệ và các quỹ: Là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào hoạt động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng.
Vốn điều lệ phải đạt được mức tối thiểu theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của mỗi nước. Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, tức là tạo ra cơ sở ban đầu cho hoạt động của ngân hàng. Các quỹ ngân hàng được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hằng năm của ngân hàng như: Quỹ dữ trự bổ sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác.v… Ngoài ra còn có các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như: Quỹ khấu hao cơ bản, sữa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro.v… - Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn huy động gồm có: Tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng, tiền gửi của các tổ chức đoàn thể, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, nguồn vốn huy động qua phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.v… - Nguồn vốn đi vay: Trong trường hợp vốn tự có và vốn huy động không đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh, ngân hàng thương mại có thể vay vốn của các chủ thể sau: + Vay của ngân hàng nhà nước dưới hình thức được tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cầm cố, tái cầm cố các thương phiếu.v… + Vay của ngân hàng thương mại khác qua thị trường liên ngân hàng, hợp đồng mua lại.v… + Vay của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế.v… - Nguồn vốn khác: vốn tiếp nhận từ ngân sách nhà nước để thực hiện các chương trình dự án theo kế hoạch tập trung của nhà nước, vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác.v… Nghiệp vụ sử dụng vốn - Thiết lập dự trữ: Các ngân hàng thương mại không sử dụng toàn bộ nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những nhu cầu sau: + Duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định của Ngân hàng Nhà nước + Thực hiện các lệnh rút tiền và thanh toán chuyển khoản của khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 + Chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi. + Đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng. + Thực hiện các khoản chi tiêu hằng ngày của Ngân hàng.
Dự trữ của Ngân hàng có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao. - Cấp tín dụng: Bao gồm các nghiệp vụ cho vay ( ngắn, trung và dài hạn); chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán.v… - Đầu tư tài chính: Ngân hàng thương mại sử dụng các nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình thức đầu tư nhằm kiếm lời và chia sẽ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng, bao gồm: Góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp và các tổ chức tín dụng khác, mua chứng khoán và các giấy tờ có giá để hưởng lợi tức và chênh lệch giá. - Sử dụng vốn cho mục đích khác nhu mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở ngân hàng.v… Nghiệp vụ trung gian Đây là dịch vụ mà khi ngân hàng cung cấp cho khách hàng sẽ nhận được các khoản hoa hồng và lệ phí.2 Các nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản Trong thời gian gần đây, điều kiện môi trường cạnh tranh ngày càng mãnh liệt đã buộc các ngân hàng ráo riết tìm ra lợi nhuận bằng cách thực hiện những hoạt động ngoại bảng ( là những giao dịch không được phép ghi trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng). Bao gồm các hoạt động sau: - Các hợp đồng bảo lãnh tín dụng - Các hợp đồng trao đổi lãi suất - Các hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn lãi suất.
- Hợp đồng cam kết cho vay - Các hợp đồng tỷ giá hối đoái .2 Nhóm sản phẩm dịch vụ ngân hàng của NHTM 1.1 Khái niệm về sản phẩm dịch vụ Ngân hàng của NHTM Trong thời gian vừa qua, trong tạp chí chuyên ngành ngân hàng và cả trên các phương tiện thông tin đại chúng có đề cập đến thuật ngữ “ sản phẩm dịch vụ ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hàng” song đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuật ngữ này. Trên thực tế ở nước ta đang tồn tại hai quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng: Quan điểm thứ nhất cho rằng: những hoạt động ngân hàng ngoài hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng mới được xem là dịch vụ ngân hàng như chuyển tiền, thu hộ, ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán.v… Đây là quan điểm theo nghĩa hẹp và chúng ta thường thấy khi các ngân hàng thương mại phân chia cơ cấu và thu nhập của mình. Theo đó các ngân hàng thương mại thường chia thu nhập của mình thành thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ dịch vụ, trong đó thu nhập từ hoạt động tín dụng là chênh lệch giữa lãi suất đầu vào ( lãi suất huy động vốn) và lãi suất đầu ra ( lãi suất cho vay), còn thu nhập dịch vụ là những khoản phí thu được từ khách hàng. Quan điểm thứ hai cho rằng: tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ khách hàng đều được xem là dịch vụ ngân hàng.
Theo đó toàn bộ hoạt động của ngân hàng từ tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối.v… đều là những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Đây là quan điểm theo nghĩa rộng và đang trở nên phổ biến hơn cùng với quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới. Thật vậy gần đây một số ngân hàng phân chia thu nhập thành thu nhập từ hoạt động tín dụng và thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng.