Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 1. Tổng quan về ODA 1. Khái niệm Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance – ODA) là hình thức chuyển giao nguồn vốn (tiền tệ, công nghệ,…) từ các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức tài chính quốc tế (WB, IMF, ADB,…), các tổ chức của hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ (NGO) gọi chung là các đối tác tài trợ nước ngoài cho các nước đang và chậm phát triển gọi chung là bên tiếp nhận tài trợ.
Lịch sử ra đời của ODA ODA xuất hiện vào giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ 2 bắt đầu bằng kế hoạch Marshall của Mỹ viện trợ cho các nước Tây Âu nhằm khôi phục kinh tế hậu chiến tranh. Tiếp đó vào năm 1955, Hội nghị Colombo đã hình thành những ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển. Sau khi Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) được thành lập vào năm 1960 cùng với sự ra đời của Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC) vào năm 1961, cộng đồng các nhà tài trợ được hình thành nhằm phối hợp các hoạt động chung về hỗ trợ hợp tác phát triển. Năm 1972, OECD đã đưa ra định nghĩa về ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích là thúc đẩy sư phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển.
Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Về thực chất ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ những nước phát triển sang những nước nghèo vào chậm phát triển. Liên hiệp quốc trong một phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GDP của mình để hỗ trợ sự phát triển bền vững về kinh tế xã hội của các nước nghèo và chậm phát triển. Về nguyên tắc, ODA chỉ tập trung cho hỗ trợ việc khôi phục và thúc đẩy sự phát triển hạ tầng kinh tế xã hội của các quốc gia tiếp nhận như xây dựng đường xá, giao thông công cộng, các công trình thủy lợi, bệnh viện, trường học, vệ sinh môi trường…Những dự án được đầu tư từ nguồn vốn ODA thường là những dự án không có hoặc ít có khả năng sinh lời cao, ít có khả năng thu hút được đầu tư tư nhân.
Vì vậy nguồn vốn ODA rất có ý nghĩa đối với việc hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án phục vụ lợi ích cộng cộng, đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút đầu tư tư nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download4 : add luanvanchat@agmail.com Cùng với chính sách ngoại giao mở cửa, chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, từ năm 1993 Việt Nam bắt đầu tiếp nhận nguồn vốn ODA và đã đem lại những bước phát triển về kinh tế xã hội đầy mạnh mẽ, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Các đặc điểm của ODA ODA là các khoản viện trợ hoàn lại và không hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi, do vậy nó có các đặc điểm sau: Tính ưu đãi Vốn ODA có thời gian ân hạn và hoàn trả vốn dài (khoảng 10 năm và 40 năm đối với các khoản vay từ WB, ADB và JBIC). Một phần của vốn ODA có thể là viện trợ không hoàn lại.
Phần vốn ODA hoàn lại có mức lãi suất thấp hơn so với lãi suất vay thương mại quốc tế. Vốn ODA chỉ được dành cho các nước đang và chậm phát triển. Các nước này có thể nhận được vốn ODA khi đáp ứng điều kiện nhất định. Một là tổng tài sản quốc nội thấp.
Những nước có tỷ lệ GDP bình quân đầu người càng thấp thì tỷ lệ viện trợ không hoàn lại và các điều kiện ưu đãi càng cao. Sự ưu đãi giảm khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định. Hai là mục tiêu sử dụng ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên của bên cho vay. Tính ràng buộc ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận tài trợ về đặc điểm chi tiêu.
Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác nhau và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận. Ví dụ như Bỉ, Đức, Đan Mạch cung cấp ODA kèm theo điều kiện là phải sử dụng 50% vốn để mua hàng hóa và dịch vụ tư vấn của mình. Hay như Nhật Bản quy định vốn phải thực hiện bằng đồng Yên Nhật. Hoặc như Mỹ dùng ODA làm công cụ thực hiện ý đồ “Gây ảnh hưởng chính trị trong thời gian ngắn”.
Như vậy, viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là sự trợ giúp vô tư mà nó còn là một công cụ để kiếm lời cả về kinh tế và chính trị đối với các nước tài trợ. Có khả năng gây nợ cho các nước tiếp nhận Trong thời gian đầu tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, yếu tố nợ nần thường chưa xuất hiện do những điều kiện vay ưu đãi. Một số nước đi vay chủ quan với nguồn vốn này và không sử dụng một cách hiệu quả. Do vậy, mặc dù đã sử dụng một lượng vốn lớn nhưng lại không tạo ra được những điều kiện tương ứng để phát triển kinh tế-xã hội (không thu hút FDI và các nguồn vốn khác phục vụ cho sản xuất, kinh doanh).
Nước đi vay không thể trả được lãi và vốn vay ODA theo đúng thời hạn đã cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho các thế hệ sau. Do đó, LUAN VAN CHAT LUONG download5 : add luanvanchat@agmail.com trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA cần kết hợp với chính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. Vai trò của ODA Vai trò đối với các nước nhận tài trợ Nguồn bổ sung vốn cho các nước đang phát triển: Các nước đang phát triển trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội đều phải cần đến một lượng vốn đầu tư rất lớn và đây là một thách thức quan trọng đối với quốc gia đó. Với nội lực còn hạn chế thì nguồn vốn trong nước không đủ để có thể đáp ứng được nhu cầu về vốn đầu tư, do đó việc huy động vốn từ nước ngoài trở nên tất yếu.
ODA giúp bổ sung nguồn vốn, giảm gánh nặng cho NSNN. Với thời gian cho vay dài và lãi suất thấp, ODA giúp Chính phủ các nước nhận tài trợ tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và các hạ tầng y tế, giáo dục. Sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng có tác động tích cực trong quá trình phát triển và đổi mới đất nước. Tiếp cận kiến thức với các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và phát triển nguồn nhân lực: Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến là nhân tố không thể thiếu cho quá trình phát triển kinh tế.
Vì thế chúng ta lựa chọn phương thức “đi tắt, đón đầu”, tiếp cận với kiến thức, thành tựu khoa học một cách nhanh nhất có thể. Cùng với các dự án ODA, nguồn nhân lực của Việt Nam được nâng cao về trình độ khoa học công nghệ thông qua các tài liệu chuyên ngành, các cuộc hội thảo có sự tham gia trực tiếp của các kỹ sư nước ngoài, sự tiếp xúc và học hỏi lẫn nhau với các kỹ sư nước bạn khi họ sang Việt Nam thực hiện các dự án, cơ hội ra nước ngoài học tập và tham quan các mô hình làm việc và quản lý tại các nước phát triển, các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Góp phần thu hút FDI và các nguồn vốn đầu tư khác: Đối với các nước đang phát triển thì nguồn vốn ODA được sử dụng chủ yếu vào các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Đây là lĩnh vực có nhu cầu vốn đầu tư lớn song khả năng sinh lời thấp nên không hấp dẫn được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ quan tâm đến những nước có môi trường đầu tư thuận lợi nhằm giảm chi phí. Vì vậy cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, môi trường chính sách không thông thoáng, ổn định sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư. Một quốc gia đang phát triển nhận được nhiều và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA đồng nghĩa với việc xây dựng được môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các nguồn vốn khác như FDI và vốn đầu tư trong nước phát huy hiệu quả. LUAN VAN CHAT LUONG download6 : add luanvanchat@agmail.com Phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường: Một lượng lớn ODA được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy học.
Từ đó góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực tại các nước tiếp nhận đầu tư. Lĩnh vực y tế cũng được quan tâm đầu tư phát triển, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế mà chỉ số phát triển con người tại các nước đang phát triển đã tăng đáng kể. Bên cạnh đó, một lượng lớn ODA cũng được sử dụng để phát triển các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực năng lượng và môi trường.
Nhờ đó giúp các nước chống lại sự biến đổi khí hậu, ứng phó với thiên tai và bảo vệ môi trường. Vai trò đối với các nước tài trợ Bành trướng ảnh hưởng và giành lợi thế về kinh tế: Đây là một mục tiêu tổng hợp mà rất nhiều quốc gia theo đuổi khi thực hiện tài trợ quốc tế: - Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa để các nước đang và chậm phát triển có thể xây dựng được các cơ sở hạ tầng cần thiết tối thiểu cho việc phát triển kinh tế và sử dụng hàng hóa của họ. - Mở rộng thị trường đầu tư: Các khoản nợ cho phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển môi trường thể chế, môi trường đầu tư tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư của khu vực các doanh nghiệp các nước tài trợ.