CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về bảo lãnh ngân hàng. Khái niệm hoạt động bảo lãnh ngân hàng. Theo Luật các TCTD Việt Nam, Điều 20 có định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng như sau: “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho các TCTD số tiền đã được trả thay”.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại hình tài trợ ngoại thương, nhằm phòng ngừa tổn thất cho người thụ hưởng bảo lãnh do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan. Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ- NHNN ngày 26/06/2006 của Ngân hàng nhà nước quy định việc thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh của các TCTD đối với khách hàng. Khoản 1 trong Điều 2 của quy chế qui định “Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay”.
Theo khái niệm trên, tham gia bảo lãnh gồm có ba bên: - Bên được bảo lãnh: Là bên yêu cầu ngân hàng mở thư bảo lãnh. Đây chính là khách hàng của ngân hàng. Trong trường hợp có sự vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ phải thanh toán thay, và bên được bảo lãnh phải có nghĩa vụ bồi hoàn cho ngân hàng. - Bên nhận bảo lãnh: Là bên được hưởng bồi thường theo các quy định trong thư bảo lãnh khi có sự vi phạm hợp đồng, với điều kiện bên nhận bảo lãnh phải xuất Đoàn Đức Lĩnh Khóa 2011 - 2013 3 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với các điều khoản được quy định trong hợp đồng bảo lãnh.
- Bên bảo lãnh: là bên đứng ra phát hành thư bảo lãnh, và có nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên này yêu cầu (đồng thời xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với những điều đã ký kết trong hợp đồng bảo lãnh). Bảo lãnh ngân hàng có nghĩa là bên bảo lãnh là ngân hàng. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng. Bảo lãnh là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau.
Bảo lãnh ngân hàng là tổng thể mối quan hệ của nhiều bên tham gia các hợp đồng ký kết. Các hợp đồng trong nghiệp vụ bảo lãnh có ít nhất 3 loại hợp đồng: Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh. Ngân hàng Hợp đồng 1 (Hợp đồng bảo lãnh) Hợp đồng 2 (Cam kết bảo lãnh) Bên được bảo Bên nhận bảo lãnh lãnh Hợp đồng 3 (Cung cấp hàng hóa dịch vụ) Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng Các hợp đồng này vừa độc lập với nhau lại vừa có mối quan hệ với nhau: - Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: đây là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh. Trong đó người được bảo lãnh có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện đối với người thụ hưởng bảo lãnh.
- Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh: là mối quan hệ Đoàn Đức Lĩnh Khóa 2011 - 2013 4 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội ngân hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng. - Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh: là mối quan hệ ràng buộc trong cam kết bảo lãnh, thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh đã cam kết trong hợp đồng gốc. Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập. Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập so với hợp đồng (hợp đồng cơ sở mà bảo lãnh lấy làm căn cứ).
Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng của người được bảo lãnh, nhưng việc thanh toán của một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện như được quy định trong bảo lãnh. Tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng còn thể hiện ở sự độc lập giữa trách nhiệm thanh toán của ngân hàng với mối quan hệ khách hàng. Ngân hàng không thể viện lý do bên được bảo lãnh còn nợ tiền ngân hàng, bên được bảo lãnh phá sản…. để trì hoãn việc thanh toán cho bên nhận bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh đưa ra đầy đủ chứng từ.
Tính phù hợp của bảo lãnh. Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Ngân hàng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng. Trường hợp thấy có những điểm không rõ ràng, ngân hàng cần xác minh lại.
Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra chứng từ của mình, tức là thanh toán khi chứng từ bất hợp lệ thì nhiều khả năng sẽ không nhận được bồi hoàn từ phía người được bảo lãnh. Nguyên tắc trong việc kiểm tra chứng từ là ngân hàng phải kiểm tra một cách trung thực và khách quan. Khi chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong bảo lãnh, đồng thời không có dấu hiệu lừa đảo thì ngân hàng phải thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh. Đoàn Đức Lĩnh Khóa 2011 - 2013 5 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1.
Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng. Bảo lãnh ngân hàng là hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng. Bảo lãnh ngân hàng chỉ được xếp vào nội bảng khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
Lúc này nó được xếp vào loại tài sản xấu cấu thành nợ quá hạn. Như vậy bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản cho vay đòi hỏi ngân hàng phải phân tích kỹ khách hàng trước khi nhận bảo lãnh. Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của một ngân hàng hiện đại là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng. Theo định nghĩa, hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài sản (nội bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ các chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp.
Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng có thể ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng bởi vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản Có và tài sản Nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng. Chức năng và vai trò của bảo lãnh ngân hàng. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng. - Chức năng hạn chế rủi ro do thông tin không cân xứng.
Trong kinh doanh, việc tìm hiểu thông tin về đối tác là rất quan trọng. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau như: khoảng cách địa lý, sự khác biệt về tập quán kinh doanh, khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin, chi phí về thông tin lớn, nên luôn tồn tại rủi ro do thông tin không cân xứng. Do đó, bảo lãnh ngân hàng là công cụ hiệu quả góp phần khắc phục nhược điểm này. - Chức năng là công cụ bảo đảm.
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng. Chức năng này được thể hiện trước hết ở việc bảo đảm sự công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh trong việc thực hiện các cam kết. Bên cạnh đó, bằng việc cam kết chi trả khi bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ, ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra sự bảo đảm cho bên nhận bảo lãnh. Đây chính là mục Đoàn Đức Lĩnh Khóa 2011 - 2013 6 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đích ra đời của bảo lãnh ngân hàng.
Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho các giao dịch được tiến hành một cách thuận lợi và dễ dàng. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ bù đắp cho bên nhận bảo lãnh những tổn thất gây ra do phía đối tác không thực hiện các nghĩa vụ. Điều này làm yên lòng người cung cấp vốn, người cho vay, chủ công trình, người mua hoặc bất kỳ ai với tư cách là bên nhận bảo lãnh, trong giao dịch với đối tác. Trên thực tế, do việc thanh toán dựa trên sự vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của bên được bảo lãnh, mà các nghĩa vụ này lại có sự giám sát gián tiếp từ phía ngân hàng, nên tỷ trọng các bảo lãnh ngân hàng được yêu cầu thanh toán thường không cao.
Rõ ràng, sự có mặt của bảo lãnh ngân hàng như nhiên liệu bôi trơn cỗ máy kinh tế, góp phần giải phóng các ách tắc trong các giao dịch ở các lĩnh vực trong nước lẫn quốc tế. - Chức năng là công cụ tài trợ. Bảo lãnh ngân hàng còn là công cụ tài trợ về mặt tài chính cho bên được bảo lãnh. Trong nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh ngân hàng, bên được bảo lãnh không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, tiền nộp thuế…Vì vậy, không trực tiếp cấp vốn, nhưng với việc phát hành bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh đã giúp cho khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi thực hiện cho vay.
Với ý nghĩa này, bảo lãnh ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, làm giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp. - Chức năng là công cụ đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ.