Chương 1: Tổng quan về sản phẩm thẻ Ngân hàng. Chương 2: Thực trạng kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Công thương Việt Nam. Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Vũ Thị Minh Hằng đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. Rất mong nhận được những phản hồi và góp ý của Quý Thầy Cô và các bạn quan tâm đến thẻ ngân hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHUƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM THẺ NGÂN HÀNG 1.1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1.1 Nguồn gốc ra đời và phát triển Thẻ ngân hàng, như hình dạng hiện nay, xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20. Nó ra đời năm 1914, khi đó Tổng công ty xăng dầu California (công ty Mobil ngày nay) cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Mục đích cơ bản là khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo một dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Hình thức thẻ ngân hàng đầu tiên là Charge – it, một hệ thống tín dụng được phát triển bởi ông John Biggins năm 1946, cho phép khách hàng mua hàng tại những nơi bán lẻ.
Các nhà kinh doanh ký quỹ tại ngân hàng Biggins và ngân hàng thu tiền thanh toán từ phía khách hàng và hoàn trả cho nhà kinh doanh. Hệ thống này đã chuẩn bị cho thẻ tín dụng đầu tiên lưu hành vào năm 1951 tại NewYork do ngân hàng Franklin National. Năm 1955, hàng lọat thẻ mới như Trip Charge, Gloden Key, Gourmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express ra đời và thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ thu hút được khách hàng thì cần phải có mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu.
Đứng trước đòi hỏi đó, Interbank và Bank of America đã xây dựng hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard đổi tên Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge đổi tên là Master Card. Ngày nay trên thế giới có 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất là Visa, Master Card, Amex, Jcb.
Thẻ Diners Club đầu tiên được phát hành năm 1949, đây cũng là thẻ đầu tiên có mặt tại Nhật Bản vào năm 1960. Năm 1990 có 6,9 triệu người sử dụng thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ dollars. Thẻ American Express ra đời năm 1958, tổng số thẻ phát hành gấp 5 lần Diners Club và gấp 2 lần JCB. Năm 1990, tổng doanh thu đạt 111,5 triệu dollars với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 khoảng 36,5 triệu thẻ lưu hành và 3,6 triệu CSCNT.
Không giống các thẻ khác, Amex tự phát hành thẻ của chính mình và trực tiếp quản lý chủ thẻ. Nhờ có mối quan hệ này mà họ có thể nắm được các thông tin cần thiết về khách hàng, từ đó có các chương trình phân loại khách hàng để cung cấp dịch vụ. Năm 1987, Amex cho ra đời loại thẻ tín dụng mà có khả năng cung cấp tín dụng tuần hoàn cho khách hàng có tên là Optima Card để cạnh tranh với Visa và MasterCard Năm 1961, Ngân hàng Sanwa ở Nhật cho ra đời thẻ JCB (Japan Credit Bureau) và đã nhanh chóng phát triển trên thế giới vào năm 1981. Ngày nay, thẻ JCB được chấp nhận trên 400.000 nơi, tiêu thụ hơn tại 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
MasterCard ra đời vào năm 1966 với tên gọi là Master Charge do Hiệp hội thẻ liên ngân hàng gọi tắt là ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các thành viên trên thế giới. Đến năm 1979 mới đổi tên thành MasterCard và trở thành đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Visa. MasterCard là tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ hai sau Visa. Hiện nay, MasterCard cũng đã có 22.000 thành viên tại 200 quốc gia, 12 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ và 200.000 máy rút tiền, doanh số giao dịch hàng năm khoảng 460 tỷ USD Cuối năm 1990 có 257 triệu thẻ Visa đang lưu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ USD.
Cuối năm 1993, doanh thu của Visa lên đến 542 tỷ USD. Hệ thống rút tiền tự động của Visa khoảng 164.000 ATM ở 65 nước trên thế giới. Visa không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên, đây cũng là điều kiện thuận lợi giúp cho Visa dễ mở rộng thị trường hơn các loại thẻ khác. Hiện nay, thẻ Visa là thẻ có quy mô phát triển lớn nhất thế giới với hơn 22.000 thành viên tại 200 nước, phát hành hơn 500 triệu thẻ, 13 triệu điểm chấp nhận thanh toán thẻ, 320.000 máy rút tiền mặt, doanh số hàng năm khoảng 800 tỷ USD.
Càng ngày thẻ càng được đa dạng hóa và trở thành sản phẩm rất được ưa chuộng. Trong suốt những năm 80 lượng giao dịch bằng thẻ tăng 20 % hàng năm. Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã và đang trở thành một phương tiện thanh toán chủ yếu của mọi tầng lớp dân cư tại nhiều nước trên thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khái niệm, cấu trúc và phân loại thẻ 1.
Khái niệm thẻ: Do điều kiện ra đời và khái niệm pháp lý về thẻ ở mỗi quốc gia có sự cạnh tranh khác nhau hơn nữa trong thuật ngữ có nhiều cách diễn đạt khác nhau để làm nổi bật một nội dung nào đó, vì vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về thẻ: − Quan điểm thứ nhất: thẻ ngân hàng là một trong những công cụ được sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ thay thế cho tiền mặt, hoặc có thể được sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. − Quan điểm thứ hai: thẻ ngân hàng đuợc sử dụng để thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính. − Quan điểm thứ ba: thẻ được sử dụng để thanh toán là một phương thức ghi sổ những số tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc, thiết bị chuyên dùng được lắp đặt tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về thẻ trong quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo quyết định số 371/1999/QĐ ngày 19/10/1999.
Theo đó Ngân hàng Nhà nước quy định: “Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ”. Từ đó có thể khái quát: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, cơ sở chấp nhận thẻ, máy rút tiền tự động hoặc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ. Đối với ngân hàng, việc phát hành và thanh toán thẻ là một hoạt động bao gồm các nghiệp vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán tiền trong và ngoài nước. Cấu trúc của thẻ Hầu hết các loại thẻ ngân hàng hiện nay đều được làm bằng nhựa (plastic card) gồm cả 3 lớp được ép lại với nhau, hình chữ nhật có các góc được uốn tròn, kích thước chuẩn là 85x54x0.
Hai mặt thẻ thường được trình bày bao gồm các nội dung sau: • Mặt trước: thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 − Tên và biểu tượng của Ngân hàng phát hành thẻ: các huy hiệu, logo của tổ chức phát hành thẻ. Những thành phần này được thực hiện với kỹ thuật cao nhằm tránh giả mạo. − Bộ nhớ điện tử : thường được gọi là “chip” được sử dụng đối với các loại thẻ thông minh, trong đó chứa đựng các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ. − Số thẻ: là tài khoản dành riêng cho mỗi chủ thẻ.
Thông thường số này được dập nổi lên trên thẻ và được in trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán tiền mua hàng. Tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cấu trúc, phân nhóm trong dãy số cũng khác nhau. − Họ và tên chủ thẻ: họ và tên của chủ thẻ được dập chữ nổi, thẻ thanh toán không chuyển đổi cho nhau. Nếu là thẻ cá nhân thì đây sẽ là tên của người chủ sở hữu, và nếu là thẻ công ty thì in tên công ty.
− Thời hạn hiệu lực của thẻ : khoảng thời gian sử dụng thẻ có thể là 6,12,18 hoặc 24 tháng tùy theo chính sách của từng NHPH. Trong trường hợp thẻ hết hạn sử dụng thì chủ thẻ phải làm thủ tục gia hạn thẻ. • Mặt sau: Bao gồm các yếu tố cơ bản như sau: − Dãy băng từ :Có khả năng lưu trữ những thông tin được mã hóa về số thẻ, tên chủ thẻ, tên NHPH, ngày phát hành, mã số cá nhân,…khi quét qua máy rút tiền tự động (ATM), máy cấp phép tự động (POS), mọi dữ liệu này sẽ được đọc và chuyển về Trung tâm thẻ thông qua mạng thông tin, nếu là thẻ quốc tế thì những thông tin này sẽ được truyền về NHPH qua hệ thống thông tin của Hiệp hội phát hành thẻ quốc tế (Hệ thống BASE-I của VisaCard hoặc hệ thống INAS của MasterCard…) − Băng chữ ký của chủ thẻ: Là băng giấy được nằm ngay dưới dãy băng từ, trên băng giấy là chữ ký của chủ thẻ, khi thanh toán tại các CSCNT, đơn vị sẽ so sánh chữ ký của người cầm thẻ trên hóa đơn với chữ ký mẫu trên dãy băng của chủ thẻ và tên, địa chỉ của NHPH,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng thực sự rất đa dạng, được sử dụng với nhiều mục đích. Để hiểu rõ hơn về tính năng cũng như lợi ích của thẻ, tôi tập hợp và phân loại thẻ ngân hàng theo 4 nhóm tiêu thức cơ bản dưới đây: • Theo tính chất thanh toán − Thẻ tín dụng : là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng được cấp và chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến hạn. Thẻ tín dụng được xem là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng đối với các chủ thẻ. Đây là sự kết hợp giữa tín dụng và thanh toán.
Đối với hình thức tín dụng thì khi ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay tức là giao cho khách hàng trực tiếp quyền sử dụng một lượng vốn nào đó.