Tổng quan nghiên cứu
Khu du lịch sinh thái Tràng An thuộc Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình, sở hữu tổng diện tích quy hoạch 2.168 ha trải dài trên địa bàn 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và thành phố Ninh Bình. Với vị thế là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới được UNESCO công nhận năm 2014, Tràng An sở hữu hệ sinh thái karst nhiệt đới ngập nước độc đáo cùng chiều sâu văn hóa khảo cổ hơn 30.000 năm. Tuy nhiên, quá trình thương mại hóa du lịch nhanh chóng đang tạo ra áp lực nặng nề lên môi trường tự nhiên và làm nảy sinh bất cập trong cơ cấu phân chia lợi ích kinh tế cho cộng đồng bản địa.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết sự mất cân đối giữa tốc độ tăng trưởng khách du lịch và mức độ thụ hưởng của người dân địa phương. Tại hai xã trọng điểm là Trường Yên với diện tích 772,12 ha và Ninh Xuân với diện tích 375,56 ha, hoạt động du lịch của cộng đồng vẫn mang tính tự phát, manh mún, thiếu sự bảo trợ pháp lý và chưa có cơ chế chia sẻ lợi nhuận công bằng.
Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát toàn diện tiềm năng tài nguyên, đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Trường Yên và xã Ninh Xuân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao sinh kế bản địa, bảo tồn cảnh quan và thúc đẩy du lịch phát triển bền vững. Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào chuỗi dữ liệu giai đoạn 2005–2015, kết hợp đợt điều tra thực địa chuyên sâu vào tháng 5/2015. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý nâng tỷ lệ hưởng lợi trực tiếp của người dân địa phương, giảm thiểu tính mùa vụ và bảo vệ tính nguyên vẹn của di sản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình tiếp cận du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT). Tác giả vận dụng định nghĩa của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2004) khi khẳng định du lịch cộng đồng là hình thức du lịch do người dân địa phương trực tiếp tham gia quản lý, vận hành nhằm giữ lại nguồn lợi kinh tế tối đa cho địa phương. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp định nghĩa của Tổ chức Du lịch Sinh thái Thái Lan (REST, 2007) và Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005, nhấn mạnh sự tương tác hài hòa giữa khai thác tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn bản sắc văn hóa và nâng cao quyền năng cộng đồng.
Nghiên cứu sử dụng thang đo 7 mức độ tham gia của cộng đồng do Pretty (1995) phát triển để đánh giá vị thế của người dân trong chuỗi cung ứng dịch vụ. Các khái niệm nền tảng bao gồm: Du lịch sinh thái (DLST), Cộng đồng địa phương (CĐĐP), Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) và Năng lực tải du lịch. Bên cạnh đó, tác giả phân tích và đối sánh 4 mô hình thực tiễn tiêu biểu:
- Mô hình quốc tế: Làng sinh thái Ventanilla (bang Oaxaca, Mexico) với 19 hộ gia đình (90 nhân khẩu) tự chủ điều hành dịch vụ gắn với bảo tồn rùa biển và rừng ngập mặn; Mô hình Vườn quốc gia Gunung Halimun (Indonesia) rộng 40.000 ha với sự tham gia bảo vệ rừng của bộ lạc bản địa Kasepuhan.
- Mô hình trong nước: Mô hình Bản Hồ (Sa Pa, Lào Cai) do SNV và IUCN hỗ trợ từ năm 2001, đón hơn 4.000 lượt khách năm 2005 với 10% khách sử dụng dịch vụ lưu trú homestay; Mô hình Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) thu hút trên 3.000 lượt khách/năm nhưng bộc lộ hạn chế về tính tự phát và phụ thuộc vào đơn vị lữ hành bên ngoài.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính và định lượng:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy hoạch như Quyết định số 728/QĐ-UBND ngày 09/4/2008 của UBND tỉnh Ninh Bình, Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 13/7/2009 của Tỉnh ủy Ninh Bình về phát triển du lịch đến năm 2020, cùng các công trình địa chất, khảo cổ của các chuyên gia hàng đầu.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa qua 2 đợt điền dã trong tháng 5/2015 tại xã Trường Yên và xã Ninh Xuân.
- Mẫu điều tra xã hội học: Tổng số 320 phiếu khảo sát hợp lệ, bao gồm 220 phiếu dành cho khách du lịch (150 khách nội địa và 70 khách quốc tế) và 100 phiếu dành cho các hộ dân địa phương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm ngành nghề (chèo đò, kinh doanh ăn uống, bán hàng lưu niệm). Luận văn cũng thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An và đại diện chính quyền cơ sở.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp chéo dữ liệu nhằm lượng hóa mối tương quan giữa sự tham gia của người dân với chất lượng dịch vụ du lịch.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực nghiệm đã chỉ ra 3 phát hiện nổi bật về hiện trạng du lịch cộng đồng tại Tràng An:
Thứ nhất, cơ cấu việc làm của cộng đồng địa phương mất cân đối nghiêm trọng. Trong tổng số 2.477 lao động địa phương tham gia hoạt động du lịch tại khu vực nghiên cứu, có tới 2.000 người làm nghề chèo đò (chiếm tỷ lệ 80,74%) và 278 người bán hàng (chiếm 12,209%). Ngược lại, số lao động làm việc tại các nhà hàng ăn uống chỉ có 50 người (2,196%), làm việc trong Ban Quản lý chỉ có 16 người (0,7%), và chỉ vỏn vẹn 3 hộ tham gia kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ, homestay (chiếm 0,132%).
Thứ hai, tồn tại khoảng cách lớn về mức độ hài lòng giữa khách du lịch nội địa và quốc tế đối với thái độ ứng xử của người dân. Trong số 150 khách du lịch nội địa, có 36,6% đánh giá cộng đồng "rất thân thiện" và 26,7% đánh giá "thân thiện". Trong khi đó, đối với 70 khách quốc tế, tỷ lệ đánh giá "rất thân thiện" chỉ đạt 21,4%, tỷ lệ đánh giá "bình thường" chiếm tới 35,7% và có 18,6% nhận xét "không thân thiện". Nguyên nhân trực tiếp là do rào cản ngoại ngữ và việc thiếu kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp của lao động bản địa.
Thứ ba, tính mùa vụ diễn ra gay gắt gây ảnh hưởng tiêu cực đến chuỗi giá trị và thu nhập. Hoạt động du lịch bùng nổ trong 4 tháng đầu năm âm lịch (từ tháng 1 đến tháng 4), tạo việc làm thời vụ cho 93 hộ bán hàng lưu động (chiếm 4,084% tổng lao động). Sau thời gian này, lượng khách sụt giảm mạnh khiến dòng tiền của người dân bị đứt gãy. Bên cạnh đó, hạ tầng vệ sinh môi trường chưa đáp ứng tải lượng du khách khi toàn bộ khu vực hang động ngập nước chỉ có 1 nhà vệ sinh công cộng và hoàn toàn thiếu vắng hệ thống thùng rác lớn tại các điểm dừng chân như Đền Trần, Phủ Khống.
+-------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU LAO ĐỘNG ĐỊA PHƯƠNG TẠI TRÀNG AN |
| (Tổng số lao động điều tra: 2.477 người - Tháng 5/2015) |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Chèo đò: [████████████████████████████████] 80,74% |
| Bán hàng: [█████] 12,21% |
| Lao động thời vụ khác: [██] 4,08% |
| Nhà hàng ẩm thực: [█] 2,20% |
| Ban Quản lý: [|] 0,70% |
| Nhiếp ảnh du lịch: [|] 0,66% |
| Doanh nghiệp thêu ren: [|] 0,35% |
| Lưu trú / Nhà nghỉ: [|] 0,13% |
+-------------------------------------------------------------------------+
Thảo luận kết quả
Sự phân bổ lao động lệch hẳn về dịch vụ chèo đò (80,74%) phản ánh thực tế người dân Tràng An chủ yếu đóng vai trò cung cấp sức lao động thủ công đơn thuần chứ chưa thực sự tham gia vào chuỗi quản lý hay sáng tạo sản phẩm du lịch. Điều này khác biệt hoàn toàn với mô hình Bản Hồ (Sa Pa), nơi người dân chủ động làm chủ các cơ sở lưu trú homestay để giữ chân khách ở lại qua đêm và gia tăng giá trị chi tiêu.
Dữ liệu phân tích mức độ hài lòng có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ so sánh tương quan giữa du khách trong nước và quốc tế. Sự chênh lệch 15,2% ở mức đánh giá "rất thân thiện" giữa hai nhóm khách phản ánh điểm nghẽn về năng lực đào tạo nghiệp vụ du lịch cộng đồng. Mặc dù Ninh Bình đã tổ chức các lớp tập huấn an toàn giao thông thủy và bồi dưỡng văn hóa ứng xử năm 2012 cho cán bộ thôn, xã Trường Yên và Ninh Xuân, nhưng các chương trình này chưa chạm tới kỹ năng mềm và ngoại ngữ thực chiến cho đội ngũ 2.000 người chèo đò.
Về mặt kinh tế, sự thiếu hụt cơ sở lưu trú (chỉ 3 hộ kinh doanh) khiến Tràng An chỉ đóng vai trò là điểm tham quan ban ngày trong hành trình 1 ngày hoặc 2 ngày 1 đêm của khách. Doanh thu từ dịch vụ ăn uống và lưu trú phần lớn chảy về các doanh nghiệp lớn tại trung tâm thành phố Ninh Bình, dẫn đến hiện tượng rò rỉ kinh tế du lịch và làm giảm tính bền vững của sinh kế địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
Để phát triển du lịch cộng đồng tại Khu du lịch sinh thái Tràng An theo hướng bền vững, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thành lập Quỹ hỗ trợ vốn du lịch cộng đồng. UBND tỉnh Ninh Bình cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần ban hành chính sách ưu đãi tài chính, tạo điều kiện cho các hộ dân tại xã Trường Yên và Ninh Xuân tiếp cận nguồn vốn vay lãi suất thấp từ 5-6%/năm. Mục tiêu đến năm 2020 hỗ trợ ít nhất 50 hộ gia đình chuyển đổi mô hình từ nông nghiệp thuần túy sang kinh doanh homestay sinh thái và phát triển ẩm thực đặc sản (thịt dê núi, cơm cháy, mắm tép Gia Viễn).
Thứ hai, chuẩn hóa chương trình đào tạo nguồn nhân lực bản địa. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Hoa Lư xây dựng các khóa học ngắn hạn miễn phí định kỳ 6 tháng/lần cho 100% người lái đò (2.000 lao động) và người bán hàng (278 lao động). Chương trình cần tập trung vào: tiếng Anh giao tiếp theo tình huống, kiến thức lịch sử cố đô Hoa Lư thế kỷ X, văn hóa khảo cổ tiền sử và kỹ năng sơ cấp cứu cứu hộ đường thủy.
Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm trải nghiệm và khôi phục làng nghề truyền thống. Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An cần kết nối các tuyến du lịch đường thủy với trải nghiệm nghề thêu ren Văn Lâm (có lịch sử hơn 700 năm từ thời nhà Trần) và làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân. Đưa các hoạt động biểu diễn dân ca, lễ hội truyền thống (lễ hội đền Trần, lễ hội Trường Yên từ ngày 8–13/3 âm lịch) vào chương trình tour đêm nhằm kéo dài thời gian lưu trú của khách từ 0,5 ngày lên 1,5–2 ngày.
Thứ tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và kiểm soát môi trường du lịch. Ban Quản lý cần đầu tư lắp đặt ngay 5 cụm nhà vệ sinh đạt chuẩn du lịch quốc tế và bố trí hệ thống 30 thùng rác phân loại tại các điểm dừng chân trung chuyển (Phủ Khống, Phủ Đột, Đền Trần) trong giai đoạn 2017–2018. Đồng thời, nâng cấp hạ tầng cáp quang Internet tại xã Ninh Xuân để đạt tỷ lệ 100% thôn có điểm truy cập dịch vụ công nghệ số phục vụ du khách.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý di sản (Sở Du lịch Ninh Bình, UBND huyện Hoa Lư, UBND xã Trường Yên, xã Ninh Xuân): Ứng dụng số liệu khảo sát thực địa để ban hành chính sách quy hoạch không gian dịch vụ, phân bổ nguồn thu vé tham quan và quản lý trật tự an toàn giao thông đường thủy.
- Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Khai thác các tuyến điểm tiềm năng, xây dựng các tour du lịch sinh thái gắn kết cộng đồng, kết hợp du thuyền khám phá 30 thung nước với trải nghiệm làng nghề thêu ren và ẩm thực bản địa.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Văn hóa học, Địa lý kinh tế: Sử dụng tài liệu như một công trình nghiên cứu điển hình về phương pháp đánh giá thực trạng du lịch cộng đồng tại khu di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Đông Nam Á.
- Người dân địa phương và các hợp tác xã dịch vụ du lịch tại Ninh Bình: Nắm bắt các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, định hướng chuyển dịch mô hình kinh doanh từ chèo đò thủ công sang chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch sinh thái có giá trị gia tăng cao.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao Tràng An cần chuyển trọng tâm sang phát triển du lịch cộng đồng?
Mặc dù Tràng An đón hàng triệu lượt khách mỗi năm, nhưng phần lớn doanh thu tập trung vào doanh nghiệp khai thác và tiền vé tham quan. Phát triển du lịch cộng đồng giúp người dân địa phương tại xã Trường Yên và Ninh Xuân trực tiếp làm chủ sinh kế, giảm phụ thuộc vào làm nông đơn thuần, hạn chế xung đột lợi ích và biến người dân thành hạt nhân bảo vệ cảnh quan di sản.
Nguyên nhân khiến khách quốc tế đánh giá thái độ của người dân thấp hơn khách nội địa là gì?
Số liệu điều tra cho thấy chỉ 21,4% khách quốc tế đánh giá người dân "rất thân thiện" (so với 36,6% của khách nội địa). Rào cản lớn nhất nằm ở khả năng ngoại ngữ hạn chế, khiến người chèo đò và tiểu thương bản địa ngần ngại giao tiếp, tạo cảm giác thiếu cởi mở đối với khách nước ngoài.
Cơ cấu việc làm của người dân làm du lịch tại Tràng An có điểm gì bất cập?
Khảo sát chỉ ra 80,74% lao động tập trung vào công việc chèo đò thủ công (2.000/2.477 người), trong khi chỉ có 0,132% (3 hộ) tham gia làm dịch vụ nhà nghỉ. Cơ cấu này khiến nguồn thu của người dân bị giới hạn nghiêm trọng ở công cắt vé/chèo đò mà không tận dụng được các dịch vụ lưu trú và chi tiêu bổ trợ.
Giải pháp nào để giảm bớt tính mùa vụ du lịch tại Tràng An?
Luận văn đề xuất xây dựng các sản phẩm du lịch mùa hè và mùa thu như: tour ngắm cảnh sinh thái 30 thung nước, trải nghiệm nông nghiệp sinh thái mùa lúa chín, tour tìm hiểu dược liệu tại Làng Sinh Dược và tổ chức các tour đêm văn hóa nghệ thuật tại Cố đô Hoa Lư nhằm thu hút khách ngoài mùa lễ hội xuân.
Mô hình du lịch quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả cho Tràng An?
Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng Ventanilla (Mexico) là hình mẫu phù hợp nhất. Tại đây, người dân giữ vai trò trung tâm điều hành và nhận được sự bảo trợ kỹ thuật từ các trường đại học và tổ chức phi chính phủ, qua đó vừa phát triển dịch vụ chèo thuyền du thái vừa tự giác bảo vệ tài nguyên rừng và động vật hoang dã.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và lượng hóa chi tiết hiện trạng tham gia của người dân tại xã Trường Yên và Ninh Xuân thuộc Khu du lịch sinh thái Tràng An.
- Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn căn bản: 80,74% lao động dồn vào khâu chèo đò, cơ sở lưu trú homestay chỉ đạt 0,132%, và năng lực ngoại ngữ của người dân chưa đáp ứng yêu cầu quốc tế.
- Đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược: hỗ trợ vốn chuyển đổi mô hình kinh doanh, chuẩn hóa đào tạo nghiệp vụ du lịch, đa dạng hóa sản phẩm làng nghề văn hóa và đầu tư hạ tầng kỹ thuật đạt chuẩn.
- Lộ trình thực hiện khuyến nghị chia làm 2 giai đoạn: 2016–2018 ưu tiên đào tạo nhân lực và hoàn thiện hạ tầng vệ sinh; 2018–2020 mở rộng mô hình homestay và chuỗi liên kết làng nghề.
- Nghiên cứu là nguồn tài liệu khoa học thiết thực cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng bản địa cùng chung tay xây dựng thương hiệu Di sản Tràng An xanh, văn minh và bền vững.