CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘI TÀU BIỂN TRONG BỐI CẢNH GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 1. TỔNG QUAN VỀ TÀU BIỂN 1. Khái niệm và vai trò của vận tải biển Theo nghĩa chung nhất vận tải biển hoạt động chuyên chở hàng hóa hay hành khách trong nước hoặc giữa nước này và nước khác bằng đường biển. Vận tải biển hiện đang thúc đẩy một cách nhanh chóng khả năng giao lưu buôn bán và góp phần thay đổi cơ cấu hàng hóa trong và ngoài nước.
Vận tải đường biển giữ vị trí số một trong chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới. Nó đảm nhận chuyên chở gần 80% tổng khối lượng hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Sản lượng hàng năm đạt 6.000 tỷ tấn và khối lượng luân chuyển đạt khoảng 25.000 tỷ tấn/hải lý (theo Review of Maritime Transport năm 2017, UNCTAD). Đường biển có thể dùng để vận chuyển cho hầu hết các loại hàng hóa trong thương mại quốc tế, đặc biệt là các loại hàng rời có khối lượng lớn và giá trị thấp như than đá, quặng, phốt pho và giàu mỏ.
Bên cạnh đó, chi phí để xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp do chúng đều được hình thành từ tự nhiên và không yêu cầu nhiều vốn, nguyên vật liệu và sức lao động để duy trì trừ các kênh đào và hải cảng. Từ tất cả các ưu thế trên, vận tải biển trở thành hình thức chuyên chở hàng hóa có giá thành vận tải thấp và hiện đang có xu hướng giảm khi được ứng dụng thêm khoa học và kỹ thuật. Có thể thấy, nhờ những ưu điểm vượt trội, vận tải biển đóng vai trò quan trọng hàng đầu không thể thiếu trong quá trình chuyên chở hàng hóa trên toàn thế giới. Hiện nay, nguyên tắc “tự do đi biển” đã tạo thuận lợi cho ngành vận tải đường biển và nhờ đó tàu thuyền mang mọi quốc tịch được tự do hoạt động trên các tuyến thương mại quốc tế.
Khối lượng hàng hóa luân chuyển bằng đường biển quốc tế tăng nhanh qua các giai đoạn. Bên cạnh những vai trò về thương mại, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò giao lưu văn hóa, tiếp cận với những tiến bộ từ các nước trên thế giới. Chính vai trò này đã làm xóa nhòa khoảng cách của các quốc gia trên thế giới. Vai trò của vận tải đường biển trong việc phục vụ hàng hóa xuất nhập khẩu của mỗi nước không giống nhau.
Điểm này được quyết định bởi vị trí địa lý, khả năng phát triển 5 đội tàu biển, khối lượng, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu của mỗi nước. Vận tải biển tạo nên xu hướng định vị cho công nghiệp và xây dựng, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của vận tải đường biển còn được thể hiện là có thể vận chuyển được một số lượng hàng hóa lớn với giá thành siêu rẻ so với các hình thức thông thường khác, giúp cho những người mua bán có thể tối ưu hóa các khoản lợi nhuận. Đồng thời cho phép các doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa trên một đoạn đường dài và phù hợp với các mặt hàng không đòi hỏi về thời gian.
Vận tải đường biển là một hình thức vận chuyển an toàn nhất tính đến thời điểm hiện tại bởi giao thông trên biển khá rộng rãi, hơn nữa di chuyển trên nước nên hiếm khi hàng hóa ở trên tàu bị ảnh hưởng. Đặc biệt, vận tải đường biển còn có khả năng vận chuyển được các loại hàng hóa với kích thước siêu trường siêu trọng. Một điều mà trước kia các hình thức vận chuyển khác không thể làm được. Không chỉ dừng lại ở việc vận chuyển hàng hóa, vận tải đường biển còn mang đến những cơ hội để giao lưu buôn bán, mang những sản vật hay những đặc sản cũng như các loại hàng hóa nội địa đến khắp các nước trên thế giới, giúp cho các nước có sự giao lưu, giới thiệu nền văn hóa đi khắp thế giới, học hỏi khoa học kỹ thuật,… của các nước tiến bộ.
Khái niệm cảng biển Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, “Bến cảng là khu vực bao gồm vùng đất và vùng nước thuộc một cảng biển, được xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, vùng nước trước cầu cảng, luồng hàng hải và các công trình phụ trợ khác. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng”. Theo định nghĩa của Vina Base (Cơ sở dữ liệu Việt Nam), “cảng biển là công trình ở bờ biển để phục vụ các hoạt động hàng hải. Cảng là nơi trú ẩn tự nhiên hay nhân tạo.
Các cảng biển thường được xây dựng các vũng, các vịnh, các cửa sông, các vịnh hẹp, đôi khi xây dựng ngay trên các bờ thẳng, một số cảng xây dựng trên các đảo nhân tạo. Cảng được củng cố bởi các công trình phòng vệ, đê, đê chắn song đập bảo hộ cảng. Cảng phải đảm bảo thường xuyên và hữu hiệu việc ra vào và sự vận hành của các tàu (cập bến, nhổ 6 neo rời bến), xếp và dỡ hàng (đưa xuống tàu, bốc hàng từ tàu lên, tạp hợp hàng cùng gửi đi một nơi, bốc hàng lên cùng một nơi), việc chuyển tàu cho khách hàng. Điều này đòi hỏi các thiết bị: cọc tiêu, bến cảng, các trạm cập bến với tất cả các công cụ lắp đặt cần thiết như nhà kho, tháp silo, bể chứa, bãi chứa container, cần cẩu, máy hút, máy hút hạt, băng tải bơm, cần trục con dê,… Bên cạnh đó, cảng cũng làm chức năng hoa tiêu, sửa chữa, lấy chất đốt cho tàu và cấp tế lương thực thực phẩm.
Tất cả đặt dưới quyền chỉ đạo của ban giám đốc cảng”. Có thể hiểu một cách đơn giản, cảng biển là nơi ra vào, neo đậu của tàu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hóa chuyên chở trên tàu, là đầu mối giao thông quan trọng của những quốc gia có biển. Cảng biển gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải. Trước đây, cảnh biển chỉ được coi là nơi tránh gió to, bão lớn của các loại tàu bè.
Trang thiết bị của cảng biển lúc bấy giờ rất đơn giản và thô sơ. Ngày nay, cảng biển không những là nơi bảo vệ an toàn cho tàu biển trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi, mà trước hết cảng biển là một đầu mối giao thông, một mắt xích quan trọng của quá trình vận tải. Cảng biển thực hiện các chức năng và nhiệm vụ rất khác nhau. Do đó, kỹ thuật xây dựng, trang thiết bị, cơ cấu tổ chức của cảng cũng rất khác nhau và ngày càng được hiện đại hóa.
Khái niệm tàu biển Theo Viện kinh tế Hàng hải và Logistics (đại học Bremen) thì “tàu biển là những tàu chở hàng và chở khách vì mục đích thương mại”. Theo từ điển kinh tế vận tải biển của tác giả M. Korlubai, tàu biển được định nghĩa là “tàu để vận chuyển hàng hóa, khách hàng, hành lý, bưu phẩm, khai thác khoáng sản, kéo đẩy tàu, phục vụ các công tác xây dựng công trình thủy và trục vớt tài sản bị chìm dưới đáy biển”. Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015, tàu biển được định nghĩa là “Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển, tàu quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi”.
7 Theo Quy phạm phân cấp và đóng tàu biển vỏ thép của VR (Vietnam Register – Đăng kiểm Việt Nam) của Bộ Giao thông Vận tải năm 2010 thì tàu biển là “tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt động trên biển và các vùng nước liên quan với biển,… không bao gồm tàu quân sự và tàu cá”. Tóm lại, dù định nghĩa khác nhau nhưng có thể thấy, tàu biển là những cấu trúc nổi di động trên biển, vận chuyển người và hàng hóa nhằm mục đích kiếm lời. Trong phạm vi khóa luận này chỉ nghiên cứu các loại tàu biển là tàu buôn chở hàng hóa. Thêm vào đó, đội tàu biển là lực lượng tàu đảm nhiệm chức năng chính của vận tải biển là thay đổi ví trí không gian của đối tượng vận chuyển.
Nhưng muốn hoàn thành chức năng này thì tàu biển cần có căn cứ để nhận giao hàng hóa là cảng biển và các loại dịch vụ hậu cần khác. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của tàu biển 1. Mớn nước của tàu Mớn nước của tàu (Draught hay Draft) là chiều cao thẳng đứng từ đáy tàu lên mặt nước, đo bằng đơn vị mét (m) hoặc tấc của Anh (feet). Đây là một đại lượng thay đổi tùy theo khối lượng hàng hóa chuyên chở, mùa và vùng biển tàu đi qua.
Do đó, mớn nước cho biết tàu có thể ra vào các cảng, sông ngòi,. có độ sâu bao nhiêu. Mớn nước còn phụ thuộc vào trọng lượng vật phẩm trên tàu, khi chất hàng mà mực nước dâng tới điểm này thì ta biết phương tiện đã chở đủ trọng tải đến mức an toàn. Mớn nước có thể dùng để xác định lượng hàng hóa trên tàu, nghĩa là dùng mớn nước để cân hàng.
Mớn nước của tàu có hai loại là: mớn nước tối thiểu (Light Draught) và mớn nước tối đa (Loaded Draught). Mớn nước tối thiểu: Là chiều cao thẳng góc từ đáy tàu lên đến mặt nước khi tàu không chở hàng. Mớn nước tối thiểu còn được gọi là mớn nước cấu tạo. Mớn nước tối đa: Là chiều cao thằng góc từ đáy tàu lên đến mặt nước khi tàu chở đầy hàng hóa và an toàn.
Căn cứ vào mớn nước của tàu, mùa và vùng biển tàu đi qua, người ta kẻ lên thành tàu các vạch xếp hàng (Load line) còn được gọi là vạch Plimsoll. Người ta căn cứ vào vạch xếp hàng để xếp hàng nhằm đảm bảo an toàn cho tàu và hàng trong hành trình. 8 Vạch xếp hàng được kẻ trên thành tàu như sau: TF F T S W WNA Trong đó: TF (Tropical Fresh Water Load Line): Vạch xếp hàng ở vùng nước ngọt nhiệt đới. F (Fresh Water Load Line): Vạch xếp hàng ở vùng nước ngọt.
T (Tropical Load Line): Vạch xếp hàng ở vùng nhiệt đới. S (Summer Load Line): Vạch xếp hàng vào mùa hè. W (Winter Load Line): Vạch xếp hàng vào mùa đông. WNA (Winter North Atlantic Load Line): Vạch xếp hàng ở vùng Bắc Đại Tây Dương vào mùa đông.