Chương I : Cơ sở lý thuyết của sự phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với phát triển chăn nuôi Chương II : Thực trạng hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi đối với chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng Chương III : Một số giải pháp phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi ở đồng bằng sông Hồng CHUONGI CƠ SỞ LÝ THUYET CUA SỰ PHAT TRIEN DỊCH VU CHAM SOC SUC KHOE VAT NUOI DOI VOI PHAT TRIEN CHAN NUOI 1. Khái niệm phát triển dịch vụ chăm sóc sức khoé vật nuôi trong ngành chăn nuôi 1.1 Phát triển dịch vu chăm sóc sức khỏe vật nuôi Trước hết, việc xem xét khái niệm trong mục này được nhìn nhận trong hoạt động của ngành chăn nuôi nói chung mà ở đó các khái niệm dịch vụ được hiéu theo nghĩa mang tính tổ chức, thực hiện cung cấp thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ cùng với việc cung cấp sản phẩm bổ xung đi kèm, mà mục đích cuối cùng là mang lại hiệu quả cho ngành chăn nuôi từ day đủ hoạt động cung cắp về khía cạnh thú y. Dịch vụ chăm sóc được bao hàm trong cách tô chức ở đây được diễn giải theo trình tự nội dung sau: 1.1 Dịch vụ: Xét theo nghĩa hẹp và nguồn gốc của từ thì dịch vụ là một công việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người như vận chuyền, cung cấp nước, khí đốt, điện, bảo dưỡng và sửa chữa xe cộ, máy móc.Mac, dịch vu là hàng hoá, “cũng như các hàng hoá khác, có giá trị sử dụng, đồng thời có giá trị trao đổi”. Trên nghĩa rộng và hiện đại, dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả hoạt động của chúng không tồn tại dưới hình thái vật thể.
Đó là các hoạt động thương nghiệp, vận tải, bưu điện, tài chính, tín dụng, ngân hàng, cung ứng vật tư, y tế, giáo dục, tư vấn thông tin vv.Các hoạt động này đã phát triển thành những ngành độc lập, có vai trò và chức năng riêng trong nên kinh tế và trong đời sống xã hội. Như vậy, dịch vụ xét từ góc độ cơ cấu tổ chức của nền kinh tế là một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành, nhiều bộ phận trong nền kinh tế quốc dân. Dịch vụ giúp cho các chủ thể sản xuất thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất một cách thuận lợi hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn và đáp ứng tốt hơn những nhu cầu sinh hoạt ngày càng phong phú của con người. Do vậy, có thể định nghĩa một cách chung nhất: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính chất xã hội, tạo ra các sản phâm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi và hiệu quả hơn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người.
Dịch vụ là lĩnh vực “mở”, nó thay đổi, phát triển tuỳ thuộc vào sự phát triển sâu rộng của phân công lao động xã của những tiến bộ khoa học, công nghệ phục vụ cho sản xuất, đời sống con người. Dịch vụ không bao gồm những hoạt động lao động nhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình sản xuất của chủ thể sản xuất, tự phục vụ cho các nhu. cầu sinh hoạt của một người nào đó. Dịch vụ có những đặc điểm sau đây khác với hàng hoá thông thường: - Là sản phẩm vô hình có thể cảm nhận về chất lượng.
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời không có khả năng lưu kho, dé dành, tích trữ làm phần đệm dé điều chỉnh sự thay đổi thất thường của nhu cầu thị trường như các hàng hoá thông thường. Dịch vụ thường không mang hình thái độc lập, ké cả trong trường hợp nó có tính chất sản xuất vật chất, nó hoà nhập hay sắn liền với một sản phẩm hay một giai đoạn nào đó. Tất cả các dịch vụ có ích đều được thực hiện đồng thời với quá trình sản sinh ra nó, cho nên lao động dịch vụ mang tính xã hội cao. - Dịch vụ cần phải tận dụng tối đa công suất một cách có hiệu quả nhất.
- Có nhiều dịch vụ không đòi hỏi nhiều vốn, vốn lớn, không cần có tổ chức cồng kénh.nhung có nhiều dich vụ lại gắn liền với sự phát triển đồng bộ nhiều ngành kinh tế, đòi hỏi kết cấu hạ tầng đồng bộ về giao thông, thông tin liên lạc, điện, nhà phải đi trước một bước. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi Dịch vụ chăm sóc ở đây là thuật ngữ đê chỉ hàng loạt các hành động thực hiện trên cả mặt thời gian, công sức và vật chất cung cấp trực tiếp trên đối tượng tiếp nhận cụ thể nhằm mang lại lợi ích về mặt vật chất hay thoả mãn về mặt tinh thần của người chăm sóc hoặc sở hữu. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi xét trong đối tượng tiếp nhận là vật nuôi - sinh vật sống trong trường hợp này được chia thành theo 2 nhóm dưới đây: - Động vật nuôi nhét khai thác: đối tượng này được hiểu là qui lại trong các chuồng nuôi đơn lẻ hay nuôi tập trung với qui mô lớn nhằm khai thác chính yếu về kinh tế và đảm bảo an toàn cho người chăn nuôi. Các tính toán theo qui trình luôn được người chăn nuôi cân nhắc lựa chọn loài vật nuôi, giống nuôi và một loạt các chế độ chăm sóc phù hợp.
Xét trên góc độ khai thác kinh tế người chủ sở hữu khi đầu tư cho một dự án này luôn phải tính toán đến mội số khía cạnh chủ yếu sau: © Hoạt động này phải đồng nghĩa đảm bảo cho vật nuôi phát triển mạnh khoẻ theo đúng biểu đồ tăng trưởng với giống loài, cho đến một kết quả đạt được trên cả 2 tiêu chí: chất lượng sản phẩm cuối cùng và thời gian kết thúc nuôi e© Dam bao sự an toàn không chỉ cho động vật nuôi trong một môi trường tập trung, đồng thời với môi trường là con người và các sinh vật xung quanh. Kế đến là ý nghĩa đảm bảo an toàn đầy đủ về việc sử dụng các sản phẩm từ vật nuôi phục vụ cho nhu cầu của con người e Thi trường đầu ra luôn được tính toán trên hết để nhà đầu tư cho chăn nuôi có được hiệu quả kinh tế mang lại sau khi đã xem xét đầy đủ các khoản chi phí đầu tư - Động vật nuôi cảnh: mang ý nghĩa về việc tạo cảm nhận tâm lý thụ hưởng của người chủ sở hữu, ý nghĩa kinh tế trong trường hợp này được chủ sở hữu xem xét và quyết định lựa chọn bất kế giá trị về mặt vật chất. Tuy nhiên, trên thực tế đối tượng vật nuôi này thường tập trung trong các khu vực đô thị có thu nhập kinh tế tốt mới lựa chọn. Sự kết hợp thành thuật ngữ “dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi” trong chăn nuôi sẽ là một khái niệm mới trong ngành chăn nuôi ở nước ta bởi ý nghĩa tích cực mang lại không chỉ cho mỗi nhà chăn nuôi, mà còn gắn kết được với các nhà kinh doanh, các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu, quản lý và cao hơn là sự hình thành và phát triển của một thành viên mới trong hệ thống dịch vụ ở nước ta.
Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi Phát triển là tiến trình mà sự vận động đạt được đến một giai đoạn ở mức cao hơn, ở một cấp độ tiên tiền hơn và trưởng thành hơn. Khái niệm “phát triển” trong thời đại hiện nay đã có những thay đổi quan trọng khi nói đến phát triển cho các hoạt động kinh tế là “phát triển bền vững” và trở nên thông dụng trong định hướng nghiên cứu và phát triển của con người. Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển định nghĩa phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Trong chăn nuôi, phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi là một hoạt động mà sự phát triển cũng gắn liền với sự phát triển của ngành chăn nuôi, bởi lẽ dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi chỉ xuất hiện khi ngành chăn nuôi bước sang một giai đoạn mà các yêu cầu chất lượng và nhu cầu chuyên môn cao của ngành đòi hỏi và xuất hiện.
Sự liên quan mật thiết giữa dịch vụ chăm sóc sức khỏe vật nuôi với bản thân trong ngành chăn nuôi và các dịch vụ liên quan nhìn nhận phát triên dịch vụ dưới 2 góc độ sau: © Phat triển chiều rộng: là các hoạt động gồm nhiều dich vụ cung ứng cho nội tại ngành chăn nuôi đóng góp trực tiếp cho sự phát triển của ngành chăn nuôi, như các dịch vụ: thức ăn, con giống và dịch vụ ngoài ngành như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tín dụng. Các loại dịch vụ nói chung đều có những tác động đến sự phát triển đồng đều trên các mặt của cả chu trình chăn nuôi. Do đó, trong sự phát triển ngành chăn nuôi sự phối hợp liên kết đóng vai trò quan trọng để mang đến kết quả cuối cùng là hiệu quả của chăn nuôi đầu ra ¢ Phat triển chiều sâu: là dich vụ chuyên môn gắn chặt từng công đoạn và qui trình chăm sóc sức khỏe vật nuôi (dịch vụ thú y). Nổi bật nhất là: dịch vụ tư vấn - hỗ trợ điều trị và dịch vụ cung ứng sản phẩm thuốc bao hàm đồng thời tư vấn, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe vật nuôi kết hợp cùng các hoạt động mua bán đóng vai trò tương hỗ duy trì và tạo sự phát triển của hoạt động dịch vụ cũng như hiệu quả trên từng vật nuôi nhận được dịch vụ chăm sóc cung ứng 1.2 Đặc điểm dich vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi Chăm sóc sức khoẻ vật nuôi là một loạt các hành động được tiến hành nhằm đảm bảo cho vật nuôi vừa có được một tốc độ phát triển đúng qui trình, vừa đảm bảo an toàn trong phòng chống dịch bệnh qua các công tác phối hợp năm tình hình, giúp cho vật nuôi đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi và đặc biệt là an toàn cho người sử dụng Ngoài những đặc điểm nói trên, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật nuôi còn mang những nét riêng do đặc trưng của ngành chăn nuôi chỉ phối.
Đối tượng của ngành chăn nuôi là vật nuôi - sinh vật sống.